• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Vì Văn Sang- Một đời nặng lòng với quê hương
Ngày xuất bản: 25/11/2019 2:27:57 SA

Ký của Nguyễn Thị Tâm

Nhờ việc tìm hiểu về bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Khơ Mú mà từ lâu tôi đã biết đến tên tuổi của ông. Trong dịp Tuyên dương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái giai đoạn 2014- 2019 và Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái lần thứ III vừa rồi, tôi lại may mắn được gặp ông, nhưng bởi nhiệm vụ của bản thân, cũng bởi ông còn bận với công tác của Đại hội (ông được bầu vào Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội) nên tôi vẫn chưa có cơ hội được trò chuyện. Lần này về Văn Chấn, tự nhủ không thể bỏ lỡ dịp may được gặp và nghe chuyện của ông nên tôi liên hệ ngay với lãnh đạo xã Nghĩa Sơn để hỏi thăm địa chỉ. Trao đổi qua điện thoại, chỉ vừa nghe tôi đặt vấn đề muốn viết về gương người có uy tín trong cộng đồng mà chưa kịp nhắc đến tên ông thì Chủ tịch UBND xã Lường Văn Si đã nhanh nhẹn giới thiệu ngay: “Chị gặp bác Vì Văn Sang nhé! Ở Nghĩa Sơn, gương điển hình, tiêu biểu thì nhiều, nhưng chưa ai bằng được bác Sang chị ạ! Bác là tấm gương điển hình về mọi mặt, một “cây đại thụ” của nhân dân trong xã chúng tôi đấy. Bác Sang không chỉ là người có uy tín với nhân dân, với cộng đồng mà còn là tấm gương sáng đối với các thế hệ lãnh đạo xã trẻ như chúng tôi…”. Hay quá! Đúng với mong muốn và ý định ban đầu của tôi rồi. Thế là ngay trong chiều hôm ấy, tôi được bạn Minh- cán bộ văn hóa xã đưa đến gặp ông, người được ví như một cây cao bóng cả, một “cây đại thụ” của nhân dân các dân tộc xã Nghĩa Sơn như Chủ tịch Si đã nói. Được thông báo có phóng viên đến gặp, Nghệ nhân ưu tú Vì Văn Sang đã lên “trụ sở” của Hội người cao tuổi từ sớm để tranh thủ dọn dẹp vì căn phòng bề bộn bởi ông vừa có chuyến công tác xa dài ngày ở tỉnh mới về. Thấy chúng tôi đến, ông Sang nhanh tay xếp nốt những chiếc chén vào bàn rồi tìm chè pha nước. Nhìn cái cách tất bật đi lại của ông, rồi cái phong thái hồn hậu, cởi mở; dáng vẻ nhanh nhẹn, khỏe khoắn; làn da hồng hào, đôi mắt tinh anh mà tôi không thể hình dung ông đã ở tuổi 75, và cũng khó mà hình dung ra một vị Bí thư dành cả cuộc đời với hơn 40 năm miệt mài, lăn lộn cống hiến xây dựng xã vùng cao Nghĩa Sơn đi từ đói nghèo cho đến phát triển, no ấm như ngày hôm nay.

Hơn 30 năm làm “công bộc” của nhân dân

Sinh ra và lớn lên ở Nghĩa Sơn, một xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Văn Chấn với 5 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó hơn 80% là đồng bào dân tộc Khơ Mú. Dù hoàn cảnh gia đình còn nghèo, song bởi có tố chất thông minh, hoạt bát lại ham học nên ông Sang vẫn được cha mẹ nuôi cho ăn học. Lớn lên, ông Sang càng nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học hành. Trong lời kêu gọi thi đua của Bác Hồ đã rất rõ rằng, diệt giặc đói, diệt giặc dốt rồi mới đến diệt giặc ngoại xâm. Xác định dù chỉ là “cơm chấm cơm”, người biết nhiều dạy cho người biết ít, người biết ít dạy cho người chưa biết để giúp bà con thoát khỏi mù chữ, tiêu diệt giặc dốt ra khỏi bản làng nên năm 1963, ông Sang xin đi học lớp Sơ cấp Sư phạm và về dạy học tại xã. Năm 1964, ông Sang tham gia khám tuyển vào cả ngành công an và bộ đội. Trúng tuyển cả hai, xã lại muốn giữ ông lại vừa tiếp tục dạy học, vừa tham gia công tác tại địa phương nhưng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, chí trai sôi sục, không đành chọn lựa những nơi nhàn nhã, sung sướng nên ông Sang đã chọn lên đường nhập ngũ. Sau 7 năm tham gia quân ngũ, chiến đấu ở chiến trường nước bạn Lào, lần lượt giải phóng Nặm Bạc, Pa Thí, Xiêng Khoảng... đến năm 1971, do tình trạng sức khỏe nên ông được đơn vị cho xuất ngũ. Trở về địa phương, vốn là người nhanh nhẹn, hoạt bát lại có kiến thức, ý thức, trách nhiệm với quê hương nên ông Sang được cấp ủy, chính quyền và nhân dân tín nhiệm bầu vào làm ở Hợp tác xã, rồi tham gia vào cấp ủy.

Làm cán bộ, việc đầu tiên và cũng là điều ông Sang luôn trăn trở lâu nay là giúp đồng bào mình thoát khỏi cái đói, cái nghèo. Ở vùng cao, không riêng gì người Khơ Mú mà hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số đều bám rừng, bám núi mà sống. Họ thường cư trú sâu trong rừng và sống rải rác ở những vùng núi cao, đất dốc, canh tác chủ yếu bằng việc đốt phá rừng làm nương rẫy nên cuộc sống càng khó khăn, vất vả. Năm đó, vừa hay huyện Văn Chấn triển khai nhiệm vụ của Đảng về xây dựng đời sống mới, trong đó có cuộc vận động định canh định cư và đưa kinh tế miền núi tiến lên một bước mới, ông Sang hăm hở xắn tay vào công cuộc vận động bà con di rời khỏi vùng rừng núi, về khu trung tâm xã định canh, định cư, ổn định cuộc sống. Bản thân là người Khơ Mú, hơn ai hết, ông Sang hiểu được những phong tục, tập quán lối sống của đồng bào mình, bởi thế ông cũng biết, việc vận động bà con rời khỏi nơi chôn rau cắt rốn của mình là rất khó. Nhưng vì cuộc sống của đồng bào mình, không thể vì ngại khó, ngại khổ mà bỏ cuộc, ông Sang cùng các anh em cán bộ xã quyết tâm làm cho bằng được. Nhớ những ngày vượt núi, lội khe, ngày ăn cơm nắm, uống nước suối, đêm ngủ lán rừng để đi vận động bà con, ông Sang không giấu nổi cảm xúc của mình. Ngày ấy, để vận động được bà con xuống núi, ông đã phải có những cách làm riêng, đặc biệt của mình. Ông kể, đồng bào Khơ Mú thật thà, chất phác, nhưng không dễ gì thay đổi thói quen, tập quán của họ. Bởi vậy khi các ông đi vận động, nhiều người kiên quyết không đi, thậm chí họ còn dùng những lý do mê tín d đoan để chống lại. Dùng lý lẽ thuyết phục không được, ông Sang bèn dùng mưu, lấy chính những phong tục, tập quán của họáp dụng ngược lại với họ. Trong quan niệm của người Khơ Mú, ngôi nhà chỉ được bảo vệ tốt nhất khi có ma nhà trấn giữ và có đủ cả mái, khung và vách. Nếu không có ma nhà bảo vệ, nhà lại không có vách che thì chẳng khác gì nhà hoang, đêm đến, ma quỷ khắp nơi sẽ lên sàn nhảy múa rồi quấy phá dân bản. Biết vậy, ông Sang chọn ra những nhà đồng ý di chuyển mà nằm giữa các gia đình chống đối, cho chủ nhà chuyển hết ma nhà, vách lịa đi trước, còn lại để lực lượng dân quân xã chuyển giúp nhưng không chuyển ngay mà để qua 1, 2 đêm mới chuyển. Thấy vậy, phần vì sợ ma quỷ quấy phá, phần vì biết rằng nhiều hộ đã chuyển đi, nếu ở lại nơi này sẽ rất hẻo lánh, trước sau gì cũng phải chuyển, thà rằng đi luôn còn được xã giúp mà không mất một con gà, canh rượu nào... những nhà thuộc đối tượng khó vận động lần lượt tự nguyện chuyển theo, nhiều nhà còn xung phong đi trước. Thế là chỉ trong vòng 2 năm (theo kế hoạch là 4 năm) Nghĩa Sơn đã hoàn thành di dời gần 40 hộ đồng bào Khơ Mú về định cư ở 2 thôn Nậm Tộc 1 và Nm Tộc 2 (nay là thôn Nậm Tộc).

Thành công từ cuộc vận động định canh định cư đã thêm một lần khẳng định năng lực và tâm huyết của ông với nhân dân, với địa phương, ông Sang được tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch UBND rồi làm Bí thư Đảng ủy xã. Đưa được bà con về vùng thấp sinh sống là một thắng lợi đối với xã, nhưng với ông, làm sao để giữ được bà con gắn bó lâu dài, ổn định cuộc sống mới là điều quan trọng hơn cả. Đồng bào vùng cao vốn quen với tập quán canh tác trên nương, trên rừng, nay đưa họ về sống xa nơi canh tác, lại muốn họ thay đổi từ tập quán trồng lúa nương sang làm lúa nước thì không chỉ phải lo nguồn nước sinh hoạt, mà còn phải lo cả nguồn nước để sản xuất canh tác cho họ. Việc làm mương phai dẫn nước từ trên núi về là việc quan trọng, cấp thiết hàng đầu. Nghĩ vậy, ông Sang tìm lên Huyện ủy trình bày, xin hỗ trợ. Được huyện nhất trí ông mừng lắm, vội về khảo sát thực địa ngay để báo cáo rồi mời Huyện ủy về kiểm tra để sớm quyết định cho chủ trương làm.Ngày mùng ba tết năm ấy (1983), đích thân Bí thư Huyện ủy Đỗ Khắc Cương đã về cùng ông đi khảo sát thực địa. Sau chuyến thực địa đó, Bí thư Huyện ủy quyết định phải tiến hành ngay để phục vụ cho nhu cầu chính đáng của bà con. Song xét cả về điều kiện kinh tế lẫn nhân lực của xã thì khó có thể làm được, vậy là hai thầy trò “Bí thư” (Bí thư Huyện ủy Đỗ Khắc Cương và ông Sang) lại đích thân đi vận động nhờ các trường học giúp. Sau gần 1 tháng, với sự hỗ trợ nhiệt tình của lực lượng cán bộ, giáo viên và học sinh các trường cấp 2, 3 của huyện, Nghĩa Sơn đã đào được đường mương dài hơn 6 cây số, phục vụ nhu cầu nước sạch sinh hoạt cho bà con trong xã. Sau con mương này, ông Sang còn làm thêm hai con mương khác dẫn nước từ trên núi về, phục vụ cho sản xuất, trồng cấy của nhân dân.

Làm xong đường mương dẫn nước, xác định hệ thống đường giao thông nông thôn cũng là vấn đề quan trọng, không chỉ giúp người dân đi lại thuận tiện mà còn là một trong những yếu tố quyết định trong phát triển kinh tế ở địa phương, nên ông Sang vừa tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ của cấp trên, vừa chỉ đạo các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành trực tiếp đến từng nhà dân tuyên truyền, vận động bà con tham gia xây dựng các tuyến đường liên thôn, liên xã. Các tuyến đường được hình thành, ông Sang lại tính đến việc xây dựng hệ thống đường điện, trường học, trạm xá, trụ sở làm việc của Đảng ủy, UBND và các đoàn thể xã… Xây dựng cơ sở hạ tầng, vấn đề về cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng nhưng xã vẫn gặp không ít khó khăn, mà cái khó nhất chính là làm sao cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ tầm quan trọng của việc đồng lòng, chung sức xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngay từ những ngày đầu tiếp quản vị trí Bí thư Đảng ủy xã, ông Sang đã tập trung củng cố lại đội ngũ cán bộ, đảng viên, bởi ông biết, tất cả sự ì ạch, chậm phát triển của xã đều bắt nguồn từ đây. Nhất là công tác phát triển đảng viên, nhiều năm liền vẫn dậm chân tại chỗ. Cả Đảng ủy chỉ có 14 đảng viên thì bảo sao mà mạnh được. Tuy nhiên, xét tình hình thực tế, ông Sang quyết không vì thành tích mà phát triển ào ào được. Ông bảo, các cụ xưa đã dạy “Khảu a toong, loong a lệnh”, tức “Đóng thì dễ, nhổ thì khó”, phát triển được thì tốt, nhưng phát triển phải có chất lượng, kết nạp đảng viên mà không lựa chọn kỹ, bồi dưỡng tốt thì chỉ làm cho Đảng yếu đi... Vì vậy sau 30 năm làm Bí thư, khi chuyển giao, tổng số đảng viên của ông cũng chỉ có hơn 100 người, nhưng Đảng bộ của ông luôn là đơn vị trong sạch, vững mạnh của huyện.

Phong tục tập quán, trình độ, tư duy nhận thức của đồng bào cũng là một trong những yếu tố khiến cho kinh tế của xã chậm phát triển. Với đồng bào dân tộc thiểu số, muốn thuyết phục được họ thì bản thân người thuyết phục phải là người đầu tàu gương mẫu, nói đi đôi với làm. Từ khi làm cán bộ xã đội đến lúc làm Bí thư Đảng ủy, dù ở bất cứ cương vị nào, ông Sang cũng luôn hết mình với công việc. Thời còn Hợp tác xã, sáng chưa tỏ mặt người ông đã đi đến từng nhà trong bản gọi họ thức dậy rồi mới đánh kẻng. Hết bao cấp, ông không bao giờ quản lý và triển khai công việc bằng cách gõ đầu cán bộ cấp dưới hay các ông trưởng bản mà đích thân ông xuống tận nhà dân nắm bắt tình hình, triển khai công việc. Mỗi năm, ít nhất một đến hai lần ông tổ chức họp toàn dân, khi thì ở tại sân ủy ban, lúc ở một dịp lễ, tết hay sinh hoạt cộng đồng. Ông bảo, cuộc họp này không chỉ để triển khai công việc mà còn để những cán bộ, lãnh đạo như ông được gặp mặt đông đủ bà con trong xã, là dịp để bà con được gặp gỡ, giao lưu, thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó với nhau. 30 năm ông làm Bí thư thì 30 năm ông lăn lộn cùng dân, cầm tay chỉ việc, hướng dẫn, vận động, thuyết phục bà con làm ăn. Từ những việc nhỏ nhất như trồng cây này thế nào, chăm sóc con vật kia ra sao đến việc quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất, hợp lý. Bà con nghe theo ông không phải bởi ông nói hay mà bởi cái tâm của ông khi ông luôn coi việc của họ như việc của mình, và hơn thế nữa, bản thân ông chính là tấm gương sáng nhất, thật nhất để họ noi theo. Làm cán bộ, quỹ thời gian dành cho bản thân và gia đình chẳng được bao nhiêu, ấy vậy mà ông Sang vẫn cũng vợ con khai hoang phát triển được 3 ha quế, 7 ha cây lâm nghiệp. Từ đầu những năm 2000, ông Sang đã phát triển mô hình nuôi dê, nuôi lợn, thả cá. Mỗi năm, gia đình ông xuất ra 3- 4 tạ lợn, vài ba tạ dê... thu nhập hàng trăm triệu đồng là chuyện bình thường.

Cả một đời tận tụy làm “công bộc” của dân nhưng ông vẫn chưa thôi đau đáu nỗi lo sao cho nhân dân được đủ đầy, no ấm. Tháng 6/2004, ông Sang được hưởng chế độ hưu trí. Trước khi về hưu, vì muốn tạo dựng cho xã có mặt bằng trụ sở khang trang, rộng rãi, nên ông đã hiến tặng hơn 4000m2 đất đồi của nhà mình và vận động bà con xung quanh tặng cho xã đủ để quy hoạch các đơn vị như trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND xã, trường học, trạm y tế và khối đoàn thể về cùng một điểm. Dù đã về nghỉ, song ông vẫn luôn quan tâm đến các bản, làng, gặp từng người, đến từng nhà dân để hướng dẫn cách trồng lúa, trồng ngô, khoai; cách khai thác rừng để rừng tái sinh; để xem con em học hành ra sao…

Một đời gìn giữ hồn cốt của dân tộc

Sinh ra và lớn lên trong dòng sữa văn hóa ngọt ngào của dân tộc Khơ Mú, Nghệ nhân Vì Văn Sang luôn tự hào về bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của dân tộc mình. Từ khi lớn lên, đủ nhận thức để biết cảm nhận được cuộc sống, ông Sang đã có khả năng thẩm thấu và luôn nung nấu niềm đam mê, làm sao để lưu truyền, gìn giữ những nét văn hóa đặc sắc ấy. Với ông, cây có gốc rễ, người có cội nguồn, tục ngữ của người Khơ Mú có câu “Bỏ phong tục, tập quán sẽ tàn lụi, bỏ của sẽ mất”, muốn làm gì thì làm cũng phải giữ lấy cái gốc. Những năm chiến tranh mải lo giết giặc cứu nước, hòa bình rồi lại lo làm ăn kinh tế, đến khi có của ăn của để, xã hội phát triển, đời sống nâng lên thì văn hóa lại bị du nhập những cái mới... thành ra những tập tục truyền thống mỗi ngày bị mai một dần. Bởi vậy, dù bận mải công tác, ông vẫn luôn có ý thức và tranh thủ sưu tầm, ghi chép tất cả những gì liên quan đến phong tục, tập quán của dân tộc. Từ những điệu hát Tơm, những điệu múa truyền thống đến các nghi lễ, tập tục như thờ cúng tổ tiên, cưới hỏi, tang ma, lên nhà mới, cầu mùa, cầu mưa, rước mẹ lúa, chọc lỗ tra hạt, mừng cơm mới hay trong những ngày lễ tết đều được ông sưu tầm, ghi chép. Cũng là người Khơ Mú, nhưng vic đi sưu tầm từ chính đồng bào mình cũng không phải dễ. Người Khơ Mú không có chữ viết riêng, nhiều khi có những từ đọc, nói ra được mà không ghi được, ông Sang phải dùng những kí hiệu riêng của mình, lâu ngày kí hiệu do mình tự đặt cũng có lúc quên đi hoặc nhầm lẫn, ông lại phải tìm đến các vị cao niên hỏi lại, có những khi hỏi đến vài lần mới hoàn chỉnh được một bài hát hay một lễ tục, đó là chưa kể có những cụ còn giấu, không muốn chia sẻ, nhất là những bài thuốc Nam của người Khơ. Nhưng rồi, bằng niềm đam mê, kiên trì, tỉ mỉ và tâm huyết của mình, hơn 40 năm, ông Sang đã sưu tầm, tạo dựng lại được 10/13 loại nhạc cụ truyền thống như trống, chiêng, đao, tính "tla”, đàn hươn mạy, Pi tót...; nhiều câu châm ngôn, ca dao, tục ngữ; những làn điệu Tơm; những điệu múa như điệu múa tra hạt (tẹ chư moi), múa đao, múa đuổi chim, múa cá lượn (tẹ cạ grang), múa mừng lúa mới…

Ấp ủ rồi trăn trở, trăn trở bởi thế hệ những người già của bản, của tộc người Khơ Mú đều đã tuổi cao, bản thân ông cũng không còn trẻ nữa, phải làm sao để sưu tầm được nhiều nhất, khôi phục được nhiều nhất và quan trọng nhất là làm sao  để thế hệ trẻ, lớp kế cận thực sự đam mê, tâm huyết tiếp thu, gìn giữ và phát triển những giá trị văn hóa, những tập tục truyền thống của dân tộc mình. May mắn cho ông, năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII của Đảng về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đã giúp ông có điều kiện khôi phục lại một số lễ tục truyền thống, lan tỏa được niềm đam mê sang lớp trẻ và cộng đồng dân tộc Khơ Mú nói riêng và các dân tộc trong xã nói chung. Miệt mài truyền dạy cho bà con và các cháu, từ năm 2010, ông Sang đã xây dựng được đội văn nghệ của địa phương, phối hợp với các ngành phục dựng lại các bài múa dân gian, các bài hát dân ca và nhạc cụ truyền thống, mà đầu tiên là phục dựng thành công lễ hội Cầu mùa, rước mẹ lúa, mang bản sắc riêng của dân tộc Khơ Mú, trở thành một lễ hội đặc sắc không thể thiếu mỗi dịp xuân về. Năm 2013, đội văn nghệ của ông đã được Bảo tàng dân tộc học Trung ương mời đi trình diễn lễ hội Cầu mùa và các trò chơi dân gian tại Hà Nội. Tiết mục của đội thu hút rất nhiều người xem và được các du khách trong nước và quốc tế rất yêu thích. Cũng trong năm đó, đội còn được Trung tâm Văn hóa tỉnh Yên Bái chọn đi biểu diễn Lễ hội Cầu mùa tại tỉnh Hòa Bình và đoạt 2 giải A. Từ đó đến nay, đội văn nghệ của xã do ông dìu dắt đã đi tham dự rất nhiều hội diễn và luôn đạt giải cao. Và cũng từ sự khởi xướng, dìu dắt của ông mà giờ đây phần lớn người trẻ trong xã đã biết múa các điệu múa truyền thống; người trung niên biết hát các bài hát cổ, xã Nghĩa Sơn đã thành lập được 5 đội văn nghệ liên thế hệ tại 4/4 thôn, bản với hơn 100 thành viên. Các thành viên trong các đội ở nhiều thế hệ, từ người cao tuổi đến các cháu học sinh để các thế hệ có thể trực tiếp truyền dạy, hướng dẫn cho nhau.

Vội chia tay khi nắng chiều sắp tắt, ông Sang không về nhà nghỉ ngơi mà quay vào sắp sửa để lên rừng cắt cỏ cho cá. Hơn 30 năm làm “công bộc” của nhân dân, hơn 40 năm miệt mài làm công việc bảo tồn, gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộc, ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận bằng 03 tấm Huân chương lao động cao quý của Chủ tịch nước, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của UBND tỉnh… và danh hiệu Nghệ nhân dân gian dân tộc Khơ Mú. Nghệ nhân Vì Văn Sang nói với tôi rằng, thời gian này ông đang sắp xếp, hệ thống lại các phần ghi chép của mình để hoàn thiện thành một tập sách hoàn chỉnh, đầy đủ, sinh động nhất về phong tục, tập quán của đồng bào Khơ Mú mà ông đã sưu tầm được. Còn cậu cán bộ văn hóa trẻ thì tiết lộ rằng, 2 bác cháu đã xin được căn nhà cũ của Trạm Y tế xã để sửa sang thành phòng trưng bày những đồ vật, dụng cụ lao động, sản xuất của đồng bào Khơ Mú mà ông Sang đã sưu tầm, tạo dựng lại được. Biết vậy, tôi thấy mừng cho ông. Mừng vì những công trình nho nhỏ ấy sẽ phần nào giúp ông thấy thanh thản, nhẹ lòng bởi nỗi niềm mà cả cuộc đời ông nung nấu, ấp ủ đã trở thành hiện thực.

                                                                                       N.T.T

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter