• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Sục sôi những ngày cách mạng
Ngày xuất bản: 17/09/2019 3:25:35 SA

           Ghi chép của Trần Cao Đàm

(Theo lời kể của ông Cao Văn Hiên- xã Hợp Minh) 

Trước ngày cách mạng tháng Tám nổ ra, dù còn trẻ, do nhà nghèo tôi đã lận đận tìm kế sinh nhai. Xin xỏ, thử thách rồi tôi được làm ở rạp chiếu bóng thị xã Yên Bái, với tên tiếng Pháp là “Aide apérateur Cinéma”. Do làm thuê ở rạp, có nhiều người đến xem, cả quan lính ta, quan lính tây mà tôi biết nhiều chuyện. Vào khoảng đầu năm 1945, người Yên Bái lơ mơ biết quân Nhật mới vào Việt Nam, nhưng chưa ai biết người Nhật thế nào. Rồi tới một ngày có tin đồn là lính Nhật lên Yên Bái. Đêm ấy, ga Yên Bái đông nghịt người, cả cẩm tây, cẩm ta, dân chúng đứng lố nhố. Dân ta đến đông là do hiếu kỳ, muốn biết quân Nhật thế nào.

Quả tin đồn không sai, khi tầu vào ga, dừng lại, thấy có một lính lạ bước xuống. Lính này chẳng giống lính tây, chẳng giống lính ta, có dáng vẻ ngạo mạn, nghênh ngang, khiêu khích. Mọi người tin chắc đó là lính Nhật. Chỉ là lính mà lính này được đón, đưa về nghỉ trong sở Cẩm (Gendarmemie de police).

Sáng hôm sau, ngủ dạy, người lính này còn được hầu hạ, có người bưng nước cho rửa mặt, vẫn kênh kiệu, không dùng, đến thẳng bể nước, đánh răng, rửa mặt luôn vào bể, nhổ cả vào bể nước ăn của cẩm tây. Các quan Pháp bao năm đè nén, áp bức dân mình, bây giờ bị Nhật o ép thế nào cũng chịu.

Ít ngày sau, quân Nhật kéo lên Yên Bái. Tôi nhớ, hôm ấy chắc là ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, rạp chiếu bóng rất đông người xem. Trong rạp có cả lính tráng, quan tây, quan ta. Khoảng hơn 9 giờ tối, mọi người đang yên lặng, chú ý xem thì có một người lính khố đỏ chạy vào rạp, tay cầm giờ giấy gì. Hóa ra tờ giấy đó là bức điện, anh ta vào rạp tìm đưa cho quân tây. Cả rạp bỗng ồn ào. Cả quan lẫn lính, rồi dân chúng nhốn nháo, tán loạn kéo nhau ra về. Chỉ loáng sau, rạp hết khách, vắng tanh, chủ rạp Lê Đình Bảng ra lệnh tắt máy, đóng cửa rạp.

Ngay đêm ấy, cả quan lẫn lính, từ quan chánh sứ, phó sứ đến lính các trại, ở đồn cao, trại lê dương (Lesgionaire) lũ lượt kéo cả lên bến Âu Lâu, sang sông, lấm lét kéo vào Nghĩa Lộ. Khi chạy, chúng thấy gì nặng, thấy vướng là bỏ, vứt bỏ cả súng đạn. Ô tô bậm bạch do hết xăng cũng bị vứt bỏ bên đường.

Của đáng tội, không phải quan quân Pháp bỏ chạy hết, mà cũng còn cắt cử vài kẻ ở lại đất Yên Bái. Đó là gã Xi-mông cao kều, vốn là cầu thủ bóng đá nổi tiếng ở bãi Yên Bái, còn lại ở đồn cao. Khu kho hậu cần (intandance) có gã Gi-ni. Số ít lính khố đỏ ở lại thì mặt tái mét. Mấy chú lính pháo binh thì chân bị xích vào khẩu pháo.

Hai hôm sau, dân chúng bỗng thấy khu kho cháy lớn. Hóa ra là cháy kho xăng, do gã Gi-ni đốt. Xăng từ kho chảy xuống sông như suối, qua miếu Đôi cô (Khu nhà máy giấy bây giờ). Xăng chảy đến đâu, lửa bám theo, cháy ngùn ngụt tới đấy.

Sau này, người Yên Bái mới biết, đó là ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, quân Nhật đảo chính Pháp. Từ bấy, chính quyền của Pháp ở Yên Bái vào tay phát xít Nhật.

Từ những ngày tháng 3 ấy đời tôi cũng thay đổi lớn. Tôi cùng bạn bè bỏ rạp, qua sông Hồng, lên chiến khu, xin theo cách mạng. Sau này tôi được tham gia quân giải phóng, thuộc đơn vị anh Lê Hoa. Lúc này quân Việt Minh ở đây đã đông đảo, đang phát triển mạnh, đến mức Tri phủ An Văn Tùng đưa quân vào chiến khu theo lệnh Nhật tìm diệt lực lượng ta, đã bị bắt cả lính lẫn quan, phải cam kết không chống lại cách mạng. Còn ngầm cam kết giúp ta.

Từ cam kết này ta đã có cuộc trao nhận súng của trại lính khố xanh. Thực tế, trại lính này ta đã tuyên truyền, giác ngộ, nên khi nhận được lệnh kín “Chỉ giữ đủ mỗi lính một khẩu súng, còn đâu giao cho Việt Minh”, vì vậy việc giao súng, nhận súng ở đây khá thuận lợi. Quân cách mạng đã thu dễ dàng số súng trong một đêm và phát gọn tới tay các chiến sĩ.

Sau khi lấy súng ở trại lính khố xanh thành công, ta có kế hoạch lấy súng ở dinh Tuần Phủ. Có sự liên hệ trước, đêm ấy, khoảng 2 giờ sáng, ta đưa 3 thuyền từ bến Âu Lâu sang cổng sau, giáp sông của dinh Tuần Phủ. Sông đang ngập, nước lớn mênh mông. Trời tối đen như mực. Cả 3 thuyền của ta vẫn rời bến theo kế hoạch. Tôi đi trên thuyền do chị Quản lái. Chị là quần chúng tốt, nhà bên thị xã, gần sông vẫn sang Âu Lâu tập trung, rồi quay lại thị xã Yên Bái. Cùng đi thuyền này còn có anh An Văn Bùi, em trai chị Quản, là cán bộ Việt Minh; anh Phước là em anh Minh gỗ. Anh Minh có tên Minh gỗ vì anh buôn bè gỗ trên sông.

Lần mò trong đêm, sông nước lũ, nhờ quen chèo lái của chị Quản thuyền đến đích như ý muốn. Không may hôm nay lại là lính Nhật gác, chúng nói thứ tiếng xa lạ từ trên chòi. Thấy động, chúng quát đuổi ra. Biết bị lộ, chị Quản nhanh chóng quay mũi thuyền. Bọn Nhật nổ súng. Hóa ra khi thuyền vào bờ, vướng khuất chúng không bắn được. Khi thuyền quay ra mới vào tầm bắn.

Nghe súng nổ, tôi lao vội xuống sông. Vừa bơi, tôi vừa quay lại nhìn. Chị Quản cũng đã nhảy xuống nước, bơi cách thuyền một đoạn. Anh Phước nằm ngửa trên thuyền, quằn quại vẻ đau đớn lắm. Còn anh An Văn Bùi thì không thấy đâu.

Chị Quản bơi về đến nhà một lúc, nghe thấy tiếng động dưới bến. Chị ra xem thì thấy thuyền của mình vào bến, có cả anh Phước nằm ngửa, chân thả xuống nước bơi khoắng. Hóa ra anh Phước bị thương không thể bơi được, đành nằm lại trên thuyền cho nước trôi xuôi, về gần đến bến anh dùng chân đạp, bơi cho thuyền tạt vào bờ.

Thấy vậy, mọi người trong nhà kéo xuống, khiêng anh Phước lên nhà, rồi đưa anh lên gác băng bó, chăm sóc. Chờ đến đêm hôm sau, ta mới đưa được anh Phước sang sông, lên chiến khu cứu chữa. Riêng anh An Văn Bùi, ba ngày sau mới thấy xác nổi ở gần chợ Yên Bái. Anh bị đạn bắn trúng nách, bị thương không bơi được, một mình trong dòng nước lũ mênh mông nên không thể thoát.

Sau vụ việc, ta truy tìm nguyên nhân bị lộ, anh Đội Trung đã phát hiện: Khi tìm người đưa thư liên lạc nhận súng ta có sơ hở. Mới nghĩ đến anh lái xe ngựa ở cửa ga, nhà nghèo khó, còn đi làm thuê cho nhà Tư Đoan đã cho là người tốt, đáng tin cậy, giao cho chuyển thư mật. Rút cục, bảo đưa cho một anh Cai, anh ta lại đưa cho Quản Viên. Thế là tên này vội đi báo cho Nhật.

Những ngày đầu tháng 8 năm 1945 lịch sử ấy, tôi nhớ mãi không bao giờ quên. Hôm ấy, ta có đoàn sang thị xã Yên Bái đàm phán với Nhật. Anh Lê Hoa, chỉ huy của chúng tôi cùng tham gia đoàn. Các anh đi từ sáng sớm mà đến nhá nhem tối mới về. Về đến nơi, chưa kịp cơm nước, anh Hoa vội tập hợp anh em. Anh báo tin vui: “Chuẩn bị sang chiếm tỉnh”. Mừng quá, chúng tôi ùa tới, vây quanh anh, hỏi tíu tít. Chắc bận, còn chuẩn bị cho đơn vị, công việc vội lắm, anh chỉ trả lời ngắn gọn: “Mai sang chiếm tỉnh”… “Mai sang chiếm tỉnh”…

Thế là chúng tôi cũng vội đi chuẩn bị. Còn thượng cấp lập tức cũng có cuộc họp bàn. Từng chiến sĩ chúng tôi được lệnh chuẩn bị đủ súng đạn, chuẩn bị cả cơm, thịt. Chúng tôi cử người đi khiêng hòm đạn về, phân phát cho nhau. Lợn được mổ ngay, chia phần cho từng tiểu đội.

Đơn vị tôi đóng quân ở Âu Lâu, trong một nhà dân. Anh em háo hức, sôi nổi, khẩn trương. Thượng cấp lập tức họp ngay trong buồng. Buồng nhà dân chật, chỉ đủ kê cái bàn gỗ dài, hai hàng ghế hai bên. Ngồi đầu bàn là anh Trần Đức Sắc, điều hành cuộc họp. Tiếp đến, một bên bàn là anh Tiến Lùn, anh Đoàn Đăng Cự. Ghế bên kia có anh Lê Hoa, anh Châu Đốc…

Ở nhà ngoài, tôi cùng mấy chiến sĩ nữa nằm bò ra đất viết khẩu hiệu. Trên cái bàn gỗ gần đấy, anh Được ngồi bên cái máy chữ ta thu được của tri châu Than Uyên, cắm cúi, lạch cạch đánh truyền đơn. Vừa viết khẩu hiệu, tôi vừa để ý, tò mò nghe xem thượng cấp bàn bạc những gì. Các anh có ý giữ bí mật nói nhỏ, nên tôi chỉ loáng thoáng câu được câu chăng. Sau này, được anh Phúc Già nói lại tôi mới biết. Việc chiếm tỉnh, lúc đầu ta định không nổ súng. Qua phân tích, anh Trần Đức Sắc thấy quân Nhật hay lật lọng, sảo quyệt, không tin như họ hứa được. Ta còn phán đoán, có thể chúng chỉ hứa, tìm kế hoãn binh để tập trung lực lượng đánh lại ta. Vì vậy, ta phải chủ động đánh trước.

Sáng hôm ấy, chuẩn bị hậu cần xong, quân ta từ các nơi kéo về, tập trung cả ở bến Âu Lâu. Trong đoàn quân hùng dũng đó, tôi thấy anh Tiến Cao đứng đầu. Tôi nhớ, lúc đó khoảng 2 giờ sáng, các đoàn quân được lệnh chia thành nhiều mũi tiến sang sông, chiếm thị xã Yên Bái. Cánh thì sang sông ngay tại bến Âu Lâu. Cánh thì tới Ngòi Chanh, rồi sang giữa thị xã. Cánh lại xuống Giới Phiên. Cánh của tôi, tất cả có 20 tay súng, do anh Phúc Già chỉ huy, lên Y Can mới sang sông, lên đất Nga Quán. Từ đây, chúng tôi xuống Bái Dương, theo đường sắt xuống Xuân Lan để vào thị xã Yên Bái.

Anh Phúc Già chia đơn vị làm nhiều toán, tiến theo nhiều ngả. Trước khi nổ súng, từng toán rải truyền đơn. Toán tôi tiến theo đường sắt. Tiến mới được một đoạn, chúng tôi gặp xe goòng lên, phải dừng lại tránh. Xe goòng vừa đi khỏi lại có trinh sát về báo: “Đường ô tô nơi có cổng ở nhà máy nước đã bị rào sắt đóng kín”. Thế là chúng tôi được lệnh dừng lại.

Khoảng 5 giờ sáng bỗng nổ ran tràng súng liên thanh. Tôi biết đó là tiếng súng trung liên FM (Fuscl mitrailleuse), vẫn gọi là súng “cào cào”, vì nó giống con cào cào, trung đội anh Đoàn Đăng Cự đang giữ. Thế là đã có lệnh phát hỏa. Các hướng của ta súng nổ ran. Chúng tôi cũng bắn. Bọn Nhật chắc còn nghe ngóng, mãi đến 7 giờ sáng mới bắn lại. Chúng bắn bằng đạn ô buy (obus), bắn sối sả về hướng nhà thương tây vì có cắm cờ đỏ sao vàng. Ta cũng bắn vào đồn cao của Nhật. Hai bên đấu súng đến 9 giờ thì tiếng nổ thưa dần. Lúc này, tôi được lệnh chuyển sang làm cứu thương. Rồi đơn vị tôi cũng được lệnh rút quân.

Hôm sau, đơn vị tôi đóng quân bên bến Âu Lâu. Bọn tôi đang mai phục trên bến. Khoảng 9- 10 giờ, thấy bên kia có chuyến thuyền sang sông. Trên thuyền có hai người tay cầm cờ trắng. Chưa biết có chuyện gì, chúng tôi tập trung theo dõi. Tôi nhận ra hai người cầm cờ trắng là anh Lê Sỹ Ngữ và anh Minh gỗ. Sang đến bờ bên này, hai người lên bờ, anh Cự tiến tới, chặn lại. Anh khám xét kỹ rồi đưa hai người vào nhà anh Bình gần đó. Hóa ra hai anh này do quân Nhật bắt sang để báo với Việt Minh: “Nội nhật hai ngày các ông Việt Minh phải sang nhận tỉnh. Nếu không sang quân Nhật sẽ phá tan tất cả”.

Anh Đoàn Đăng Cự vội lấy giấy, viết thư, đưa cho tôi. Anh bảo lấy ngựa, phóng ngay vào Mỵ đưa cho anh Long Mèo. (Anh Long là người Yên Bái. Trước đây anh hay lên Mèo buôn bán nên có tên Long Mèo). Tôi vào đến Mỵ, gặp anh Long Mèo, còn có việc, khi quay ra thì không còn gặp đơn vị ở Âu Lâu. Quân ta đã kéo cả sang thị xã Yên Bái. Tôi sang thị xã Yên Bái tìm đơn vị, chỉ thấy người cầm cờ, biểu ngữ và tiếng hô khẩu hiệu. Đến trại lính khố xanh thì tôi gặp anh em. Mọi người vừa ăn cơm xong, đang tập hợp. Các anh bảo: “Ta đã giành được chính quyền, chuẩn bị thành lập chính quyền cách mạng lâm thời”. Mừng quá, chẳng nghĩ đến nghỉ ngơi, cơm nước, tôi theo anh em luôn…

Kể tới đây, mắt ông sáng lên, tự hào. Đời tôi đã được sống trong khí thế sục sôi của những ngày cách mạng ở Yên Bái. Thấm thoát, mới đó mà đã bằng cả đời người, còn vùng đất này thì đổi thay không thể tưởng tượng nổi.

 

T.C.Đ

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter