• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Bùi Huy Mai cả đời dâng hiến tài năng cho đất Văn Chấn- Mường Lò
Ngày xuất bản: 12/05/2016 7:06:21 SA

             Hoàng Việt Quân

 Dẫu biết Bùi Huy Mai lâu nay mắc nhiều bệnh trọng, nhưng khi nghe tin anh từ trần trưa ngày 6/7/2014 (tức 10/6 âm lịch), tôi vẫn không khỏi ngậm ngùi đau xót. Trong đầu tôi luôn hiện ra hình ảnh Bùi Huy Mai có vóc người tầm thước, đậm, trán rộng, đôi mắt sáng thông minh, tóc hơi loăn xoăn, tính tình cởi mở thân thiện, lịch lãm. Anh sinh ngày 13 tháng 3 năm 1940, quê ở ngõ Phất Lộc, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Học hết lớp 10, qua lớp đào tạo giáo viên cấp 1 thuộc Sở giáo dục Hà Nội. Đến tháng 9/ 1959 chàng trai trẻ theo lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước tình nguyện xung phong lên dạy học ở miền núi. Anh được vinh dự gặp Bác Hồ, Bác ân cần chuyện trò, khuyên bảo "Bác mong các cháu đã xung phong thì xung phong đến nơi đến chốn". Lời căn dặn của Bác thấm sâu trong tâm khảm anh. Thắm thoắt đến ngày lên đường. Các đoàn lần lượt đi. Một chiếc xe ca 25 chỗ ngồi, màu son đỏ chót, vừa đủ đưa đoàn nhà giáo Hà Nội lên Tây Bắc. Tới Thuận Châu, cả đoàn được nghỉ ngơi hơn một tuần, đủ lấy lại sức và chờ sự phân công của Sở. Sau đó, đoàn Hà Nội bị xé lẻ, phân về các châu trong khu. Riêng mấy anh em Bùi Huy Mai, Tuấn, Sơn, Hải, Hạnh, Nghĩa, Dương vốn thân nhau, trời "run rủi" thế nào lại được phân cùng về châu Văn Chấn công tác, nơi có cánh đồng Mường Lò nổi tiếng, lớn thứ nhì Tây Bắc. Tại châu Văn Chấn, mỗi người được phân đi một nơi, người đi Tú Lệ, người lên Nậm Lành, Thượng Bằng La, Đồng Khê, Suối Giàng, chỉ có Hạnh thuận lợi hơn được ở lại Phòng. Ba mươi năm công tác, chỉ còn 4 người vẫn bám trụ trên bục giảng, Nghĩa đã yên nghỉ trên đồi Pú Lo vì cơn sốt rét ác tính, có 2 người lấy vợ dân tộc, trong đó có Bùi Huy Mai lấy một cô vợ nông dân dân tộc Tày ở xã Đồng Khê.

 

Bùi Huy Mai kể: sau khi ổn định công tác ở châu Văn Chấn, anh được Khu tự trị Thái- Mèo cử đi học nhạc ở Hà Nội, tốt nghiệp Trung cấp Âm nhạc (1960- 1964). Anh về dạy nhạc ở trường Trung học Sư phạm I Nghĩa Lộ, sau chuyển ra dạy học ở trường Phổ thông cơ sở xã Đồng Khê- huyện Văn Chấn cho đến ngày nghỉ hưu, bởi ở đây anh được gần nhà, có điều kiện giúp đỡ vợ con hơn, nhất là từ khi vợ anh bị tật nguyền suốt ngày nằm trên giường, không đi lại được.

Với tư cách là một giáo viên giảng dạy âm nhạc và có năng khiếu sáng tác ca khúc, trước hết anh được kết nạp vào Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hoàng Liên Sơn (1984- 1991) và tỉnh Yên Bái (1991 đến nay) là hội viên chuyên ngành Âm nhạc.  Tuổi trẻ của anh ham mê âm nhạc và nhiệt tình sáng tác ca khúc, anh gặt hái được một số thành công. Tạm liệt kê đã thấy anh có hơn 20 ca khúc được công bố, trình diễn, tiêu biểu là ca khúc "Gió Đại Phong về với bản Mường" được giải khuyến khích của Đài Tiếng nói Việt Nam, được Nhà xuất bản Âm nhạc Việt Nam in ấn, phát hành năm 1969; ca khúc "Em yêu lúa vàng" được Nhà xuất bản Giáo dục in trong "chuyên san phổ thổng cấp I" năm 1962; ca khúc "Noi gương anh giải phóng quân " được tốp ca đội "Vàng anh" Đài tiếng nói Việt Nam trình diễn năm 1965; ca khúc "Cô giáo vùng biên " (phổ thơ Lưu Hoàng Giác) được giải Khuyến Khích cuộc thi Âm nhạc do Bộ giáo dục và Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Đài phát thanh truyền hình Việt Nam tổ chức năm 1984; một chùm ca khúc "Ngày hội vùng cao" (gồm 6 bài) đồng giải B toàn quốc cuộc vận đồng sáng tác ca khúc cho thiếu nhi do Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức trong 2 năm 2001- 2002,  được in trong tập nhạc "Cánh diều mơ ước"(NXB Kim Đồng 2003).v.v… Ca khúc của anh hầu hết viết về đề tài Nhà trường và viết cho thiếu nhi, nhất là thiếu nhi miền núi, biên giới. Đó là những ca khúc ngợi ca phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu, giáo dục các em thiếu nhi yêu cây lúa, yêu bản làng, mái trường, noi gương anh giải phóng quân đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam, ra sức thi đua học tốt, học giỏi. Đó còn là lời ngợi ca cô giáo vùng biên, các mái trường sư phạm, trường tiểu học miền núi, ngợi ca quê hương Hoàng Liên Sơn. Một số ca khúc diễn tả các sinh hoạt và tập quán văn hóa truyền thống như "Đi chợ Mường Lò" , "Ngày hội vùng cao", diễn tả bản sắc miền tây như "Về miền Tây",  ngợi ca những thay đổi trên quê hương như "Trấn Yên một ngày mới"… Ca khúc của anh thường có nhịp điệu nhanh, vừa phải, lời ca vui, trong sáng, nhất là khi viết cho các em thiếu nhi miền núi càng cần ngắn gọn, tươi vui, nhí nhảnh, dễ hát, dễ biểu đạt tình cảm trẻ thơ. Một số ca khúc sáng tác sau ngày tách tỉnh Hoàng Liên Sơn đã vượt ra khuôn khổ đề tài quen thuộc để sáng tác về quê hương rộng lớn hơn, giàu bản sắc vùng miền hơn.

Âm nhạc đưa anh đến với Hội văn học nghệ thuật đầu tiên. Rồi chính cuộc đời dạy học và quê hương Văn Chấn- Nghĩa Lộ giàu bản sắc đã đem đến hứng khởi cho anh viết báo, sáng tác văn học, nghiên cứu- sưu tầm văn hóa dân gian, anh được kết nạp vào chi hội văn hóa dân gian tỉnh Yên Bái (1996), hội viên Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (1999), hội viên- thành viên Liên hiệp Hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Yên Bái (2003), hội viên Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2005).

Cuộc sống miền Tây tỉnh Yên Bái vô cùng phong phú, hấp dẫn khiến anh không thể ngồi yên. Dạy học về, chăm sóc cho vợ, anh tranh thủ đi thực tế lấy tư liệu viết tin, bài, viết ký, viết khảo cứu- sưu tầm văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc Thái, Mường, Dao, Khơ Mú, Tày, Nùng… gửi đăng báo chí. Anh trở thành cộng tác viên tích cực của các cơ quan báo, tạp chí, Đài. Các bài ký của anh phản ánh khá rõ cuộc sống và tập quán, văn hóa phong phú của con người trên đất Văn Chấn- Mường Lò, đem lại niềm vui cho người đọc trước những đổi mới của quê hương, hiểu biết sâu sắc hơn về bản sắc dân tộc miền Tây, đôi khi cũng để lại cho ta những trăn trở, nghĩ suy về các vấn đề xã hội nhằm làm tốt hơn. Ký của anh ấm áp tình người, tình thôn bản Mường Lò. Không phải tự nhiên, các bài viết của anh gửi đi, các báo, tạp chí đều đón nhận.

Bùi Huy Mai có truyện ngắn được in đầu tiên "Đêm không ngủ" ở Tạp chí "Văn nghệ Hoàng Liên Sơn" số 7/ 1991, từ đó thỉnh thoảng anh viết gửi ra, đến nay đã có hơn 20 truyện ngắn được công bố. Năm 2000, anh tự chọn 8 truyện ngắn và 1 truyện ký gửi về Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, trình làng tập truyện "Thào Sùng" khá nhỏ gọn, xinh xẻo chứa đựng toàn chuyện kể về cuộc sống và con người trên đất Mường Lò. Truyện của anh chủ yếu là truyện phong tục tập quán. Anh mượn các phong tục, tập quán, lệ bản xa xưa để đưa vào truyện với dụng ý phê phán, đấu tranh với các hủ tục, đề cao các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giúp nhân dân vùng cao thoát đói nghèo, đi lên con đường ấm no, giàu có. Có 4 truyện viết về cuộc vận động phá bỏ cây thuộc phiện và tập quán hút thuốc phiện của người Mông vùng cao những năm 1990- 1992 mang ý nghĩa phê phán, giáo dục nhẹ nhàng, sâu sắc, phù hợp với lối nghĩ người Mông. Anh có khá nhiều truyện ngắn kể về gia đình vợ chồng này nọ hoặc các ông già trong làng bản, Anh có tài khai thác, miêu tả các nhân vật người già ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, ở họ luôn lưu giữ tập tục cổ truyền đan xen tốt xấu. Họ đi lên cuộc sống mới bằng cả một cuộc đấu tranh tư tưởng gay go, phức tạp, có cả khuyết điểm, sai lầm, nhưng khi đã hiểu ra thì họ rất tin tưởng, nhiệt tình, gương mẫu, động viên con cháu làm theo cái mới, cái đúng, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nét đặc sắc trong nội dung và văn phong của ông chính là ở chỗ đó, đem lại hình ảnh đời sống, con người vùng Mường Lò giàu bản sắc văn hóa và thói tục riêng trong quá trình chuyển biến cách mạng, đi lên xây dựng cuộc đời mới.

Lớn hơn cả, có giá trị nhiều hơn cả là công lao sưu tầm, khảo cứu văn hóa văn nghệ dân gian các dân tộc vùng Mường Lò (Văn Chấn- Nghĩa Lộ) của Bùi Huy Mai. Ở đây là vùng đất rực rỡ sắc màu dân gian, có nhiều nghệ nhân lưu giữ, bảo tồn, truyền dạy văn hóa dân gian các dân tộc Thái, Tày, Mường, Dao, Mông, Khơ Mú … Bùi Huy Mai đã tích cực khai thác sưu tầm  nguồn văn hóa, văn nghệ cổ truyền này và là người đầu tiên đã công bố được các công trình của mình. Năm 1979, tập truyện dân gian Văn Chấn- Mường Lò "Cay húc Nậm Xia" của anh được Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc chọn in, phát hành, gồm 15 truyện. Đây là tập truyện cổ dân gian đưa ta trở về cội nguồn với khá nhiều sự tích các vùng đất, gốc tích các tập tục cổ truyền, các hiện tượng thiên nhiên cùng thế giới động thực vật cổ xưa trên đất Mường Lò rộng lớn được các dân tộc lưu giữ, truyền miệng lại. Ta bắt gặp truyện cổ các dân tộc Tày, Thái, Mường, Mông, Dao… phản ánh quá trình di cư vào Mường Lò chinh phục đất đai, lập bản mường, đoàn kết chung nhau xây dựng và đấu tranh chống giặc ngoại xâm, phản ánh đời sống sinh hoạt và các phong tục tập quán của người đời xưa. Đặc biệt, Bùi Huy Mai có một mảng nghiên cứu, khảo cứu văn hóa dân gian các dân tộc Mường Lò khá phong phú, đa sắc màu được in trên nhiều báo chí địa phương và Trung ương, tôi tạm đếm được hơn 400 bài. Hơn nữa, ông đã có ý thức tập hợp, chỉnh sửa, sắp xếp, công bố nên bộ sách 4 tập "Dân tộc và bản sắc văn hóa vùng Văn Chấn- Mường Lò"  (NXB Văn hóa dân tộc) trong các năm: tập 1 (2002) được giải C năm 2003; tập 2 (2004) được giải khuyến khích; tập 3 (2007); tập 4 (2009) được giải B văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái. Mặc dù bộ sách chưa thực sự là công trình nghiên cứu bài bản, khoa học, nhưng đây là bộ sách đầu tiên trình bày khá đầy đủ bản sắc các tộc người trên đất Mường Lò (Văn Chấn- Nghĩa Lộ). Bộ sách được coi là "cẩm nang" mỗi khi ta đến Văn Chấn- Mường Lò muốn tìm hiểu về vùng đất- con người- bản sắc văn hóa Mường Lò. Ta thật sự cảm ơn Bùi Huy Mai đã làm được điều đó.

Bùi Huy Mai nghe theo lời Bác "Đã xung phong thì phải xung phong cho đến nơi đến chốn", hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dạy học trên non cao, anh đã tìm thấy ở vùng Văn Chấn- Nghĩa Lộ (Mường Lò) là mảnh đất sống lâu dài, đồng thời là mảnh đất ươm trồng cho năng khiếu văn học nghệ thuật của mình nảy nở, phát triển. Ngoài các khen thưởng của ngành giáo dục, anh còn nhận được Bằng khen của UBND tỉnh Yên Bái tặng năm 2006 về thành tích xuất sắc trong 10 năm hoạt động sưu tầm văn hóa dân gian (1996- 2006); 2 Bằng khen của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2008 và năm 2014 được trao Huy chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1999, Huy chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2002.

Nếu ta biết Bùi Huy Mai vẫn còn nhà cửa ở ngay gần hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội hết sức thuận lợi và là niềm mơ ước của nhiều người, vậy mà anh dành lại hết cho chị gái, vẫn một lòng trung thành sống suốt đời ở một xã nhỏ rừng núi Đồng Khê huyện Văn Chấn, gắn bó với đồng bào các dân tộc, với người vợ dân tộc Tày bị bệnh tật, giúp vợ con vượt qua khó khăn trong đời sống lam lũ, tần tảo, lại hết mình sáng tác, nghiên cứu, sưu tầm thì ta càng thêm cảm phục. Anh có nỗi vất vả không mấy ai gặp phải. Vợ bị bệnh nặng, nằm liệt giường tại chỗ. Anh phải lo cơm nước, giặt giũ, bón cơm, bế vợ đi tắm giặt, vệ sinh nhiều năm, song anh không quản ngại. Con trai cả học hành dang dở, ở nhà đi làm ruộng, lên nương, lấy củi, được anh động viên rồi cũng cố gắng học tiếp và trở thành giáo viên trường phổ thông cơ sở xã Nghĩa Sơn, nơi đồng bào Khơ Mú cư trú. Lúc sức suy yếu, anh đành lấy thêm người vợ thứ hai cũng là người Tày làm ruộng, tốt bụng, tự giác đến giúp đỡ việc nhà, tạo điều kiện cho anh chăm sóc vợ cả và sáng tác, viết bài gửi đăng, tăng thêm thu nhập nuôi cả nhà, thuốc men cho vợ. Cơ cực thế mà anh vẫn không nản lòng, vẫn vui sống với ước mơ cống hiến hết mình. Khi vợ cả mất, anh bước vào tuổi già sức yếu, bệnh tiểu đường và các bệnh khác hoành hành, nhưng anh vẫn cặm cụi làm việc nhà, việc viết, như con tằm mải miết nhả tơ cho đến ngày 6/7/2014 (tức 10/6 âm lịch) anh ra đi vì một cơn tai biến mạch máu não.

Bùi Huy Mai đúng là một tấm gương tận tụy với gia đình, có trách nhiệm với nghề dạy học, biết hy sinh để vươn lên sáng tác âm nhạc, văn học, có ý thức tìm tòi khám phá, làm tốt công tác khảo cứu- sưu tầm văn hóa, văn nghệ dân gian, có nhiều đóng góp cho sự hồi sinh, phát triển bản sắc văn hóa dân gian một vùng đất rộng lớn, đa sắc tộc Văn Chấn- Mường Lò.

Anh đã cống hiến trọn đời sức trẻ và tài năng cho vùng đất Mường Lò  (Văn Chấn- Nghĩa Lộ) và các huyện miền Tây tỉnh Yên Bái.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  H.V.Q

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter