• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đậm đà bản sắc người Dao tiền Tây Bắc
Ngày xuất bản: 18/07/2018 11:52:50 SA

Đặng Phương Lan

 Trong 5 nhóm Dao, người Dao tiền có mặt ở Tây Bắc Việt Nam sớm nhất nên từ lâu đã quên tiếng "con hỏa" (tiếng nói phổ biến của các dân tộc thiểu số biên giới Việt Trung). Từ xa xưa, giống như những nhóm Dao khác, người Dao tiền thường tụ cư ở các khe suối, lưng núi, thung lũng sâu, quen làm nương, rẫy, chọc lỗ tra hạt, rất ít người làm ruộng nước.

Người Dao tiền được phân biệt với các nhóm Dao khác qua những đặc điểm riêng về trang phục. Người Dao tiền thường mặc áo nhuộm chàm, áo dài chùm mông, cổ áo đính 5 hào tiền kẽm hoặc tiền xu, gia đình nào khá giả thì đính tiền bạc trắng loại một hào; nam giới mặc quần, phụ nữ mặc váy lửng qua đầu gối. Trong trang phục thường ngày, áo của cả nam và nữ đều được trang trí đơn giản, tà áo thêu đường viền ba màu trắng, đỏ, vàng; sau lưng áo thêu hình chữ nhật hoặc hình vuông; áo của nam giới mặc không có cúc, áo của nữ mặc được thắt bao xanh ngang lưng, ngực có yếm che; váy được trang trí 4 đường lượn sóng, xen ở giữa là hình quả trám. Riêng trang phục của cô dâu mặc trong ngày cưới được thêu nhiều hoa văn cầu kỳ hơn, đẹp hơn. Để làm được một bộ trang phục, người phụ nữ Dao tiền phải mất từ hai đến ba tháng chuẩn bị nguyên liệu, may và thêu. Trước khi thêu hoa văn lên áo, người phụ nữ phải cắt vải, khâu thành áo rồi nhuộm chàm. Còn với chiếc váy của phụ nữ thì hoa văn lại được vẽ, in bằng sáp ong. Để tạo thành những đường nét văn hoa tinh tế, người Dao tiền dùng tre, dây đồng tạo thành hình tam giác hoặc hình chữ T, nhúng vào đĩa sáp ong đặt trên bếp than hồng rồi chấm, vẽ từng nét vào váy. Sau khi in hoa văn hoàn chỉnh, người ta mới đem chiếc váy đi nhuộm chàm 2 đến 3 lần rồi nhúng vào nước nóng cho hoa văn nổi lên trên nền vải.

Ngoài áo và váy, chiếc khăn đội đầu cũng được người Dao tiền làm khá công phu. Khăn của phụ nữ Dao tiền được thêu kỳ công ở hai đầu, gắn những hạt cườm xanh đỏ, nhỏ bằng hạt tiêu, phía trước hạt cườm là hàng cúc bạc to hơn khuy áo, đầu khăn có tua tơ lụa màu đỏ rực rỡ, khi đội lên đầu làm tôn thêm vẻ đẹp của các cô gái. Con gái Dao tiền ngày xưa quấn xà cạp vào bắp chân, bây giờ vẫn còn nhiều người quấn nhưng thường là những người lớn tuổi. Con trai Dao tiền cũng đội khăn nhưng chỉ là khăn tổ ong và chỉ đội khi có khách đến nhà, khi đi thăm bà con nơi xa, hay khi cúng khấn tổ tiên.

Người Dao tiền cưới vợ cho con trai, gả chồng con con gái đều chọn ngày lành tháng tốt, không trùng ngày tháng sinh, tránh năm, tháng, ngày Dần, Thân. Thường tổ chức cưới vào mùa thu, đông, hoặc dịp tết Nguyên đán. Trước ngày cưới, đôi trai gái đã có thời gian tìm hiểu nhau có khi một năm đến hai năm qua việc đi chơi, hát giao duyên. Nếu yêu nhau, chung sống hạnh phúc bên nhau thì người con trai bảo bố mẹ đến nhà cô gái dạm hỏi bằng một đôi gà (sống và mái). Bố mẹ bên gái ưng rồi thì mời con trai đến làm rể. Thời gian làm rể là quá trình thử thách đôi trẻ, để biết người con rể tương lai có hiền lành, chịu khó và biết cúng hay không. Khi đã hài lòng, ưng thuận thì nhà gái đánh tiếng cho nhà trai. Ông mối đại diện nhà trai đến nhà gái để thăm dò ý nguyện gia đình nhà gái, hỏi ngày tháng năm sinh của cô con gái sắp làm dâu để gia đình nhà trai đi xem tuổi và chuẩn bị thủ tục cho lễ cưới. Đến ngày tổ chức cưới, nhà trai cử thêm vài người cùng ông mối hoặc bà mối đi đón dâu. Khi con dâu về đến nhà chồng được em gái chồng dắt đi xách nước về nhà rồi mới được ngồi. Đám cưới của người Dao tiền phải trải qua 2 bước. Bước một, khi đón cô dâu về nhà chồng, cả hai bên gia đình đều ăn thịt ướp chua, kiêng ăn thịt lợn mới mổ. Sau 3 ngày, nhà trai làm bánh trôi, bánh giầy và đưa dâu về nhà gái. Trong thời gian chờ nhà trai nuôi lợn to để tổ chức cưới bước hai, đưa cô dâu về ở hẳn nhà chồng, đôi vợ chồng trẻ phải đi lại lao động sản xuất và chăm sóc bố mẹ hai bên gia đình. Ở bước cưới thứ hai, nhà trai mổ tới 3 con lợn to, trong đó 2 con lợn được pha ra cho vào sạt khiêng đến nhà gái làm thủ tục cúng ma, xin ma nhà gái cho phép đưa con dâu về nhà chồng vĩnh viễn. Sau bước này, cô con dâu thực sự "xuất giá tòng phu", phụng sự gia đình chồng, khi chết là ma nhà chồng, không lệ thuộc bố mẹ đẻ.

Trong một năm, người Dao tiền có nhiều lễ tục như: gói bánh, mổ lợn ăn rằm tháng 5, tháng 7; lễ hội mở tết (Púng liếng) ăn mừng một năm được mùa, an khang vào dịp đầu xuân; lễ cầu hồn cho người ốm lâu ngày, người Dao gọi là (chấu đàng)… nhưng đặc sắc nhất vẫn là lễ cấp sắc cho con trai, thường gọi là lễ lập tịch, tiếng Dao gọi là quá tang. Từ xưa tới nay, người Dao quan niệm: Con trai sinh ra và lớn lên phải được cấp sắc mới trở thành người lớn, mới được lấy vợ, nếu không vẫn là trẻ con. Lập tịch là đặt tên mới, tên người lớn, có quyền hành trong gia đình, được nhập ma nhà, ma dòng họ, biết chài, được làm ông thầy cấp sắc cho người khác, được mọi người kính nể. Không ai làm hại, nếu ai cố tình làm hại thì người được cấp sắc gọi linh hồn tổ tiên, dòng họ, cha hoặc mẹ đã khuất trừng trị.

Người Dao tiền thường làm lễ lập tịch khi con trai tròn 12 tuổi, nhiều gia đình lập tịch cho con từ lúc 9 tuổi. Trước khi lập tịch được tiến hành, gia đình phải chuẩn bị 3 con lợn đực, mỗi con nặng từ 80 đến 100kg, nhà nghèo có thể chuẩn bị lợn nhỏ hơn (50 hoặc 60 kg/con); 2 tạ gạo tẻ; 4 chum rượu hoãng, mỗi chum chừng 30 lít; xôi gạo tẻ (không xôi gạo nếp). Trước ngày tổ chức, gia đình phải chọn hai thầy cấp sắc, một thầy đồng, 4 người thông thạo chữ nho để đọc gia phả, một người trụ cột dẫn dắt 2 ông thầy cấp sắc theo bài bản. Khi thực hiện nghi lễ, người phục vụ treo 6 tờ tranh vua quan triều đình, vua Bàn Vương lên vách buồng gian giữa, cài hoa màu xen kẽ các bức tranh. Lễ cấp sắc bắt đầu, ông thầy cúng mở màn dẫn dắt 2 ông thầy vào lễ, mâm cúng đầu tiên gồm thịt chua và rượu. Sau bài cúng mở đầu, gia đình đánh ba hồi trống báo hiệu cho cả làng biết là gia đình vào lễ lập tịch cho con, người Dao gọi là (Pìa đàng). Ông thầy mặc áo đen dài, váy cộc, đội mũ tai thỏ (giống như các quan chức triều đình) rồi cầm chuông và 1 que nứa múa. Ông thầy này là người giáo huấn cho người được cấp sắc. Ông thầy thứ hai trực tiếp dạy múa, người Dao gọi là “sầy pâu”, nghĩa là người dìu dắt, nâng đỡ; người được cấp sắc gọi là “sầy ton”. Chiều tối ngày làm lễ, người phụ nữ trong gia đình bày 1 mâm cỗ chay cho người biết chữ nho đến ngồi đọc gia phả (tôm sâu- nghĩa là quyển sổ to dày ngàn trang). Trong ngày đầu làm lễ lập tịch, tất cả mọi người dự lễ chỉ được ăn rau và thịt ướp chua, đến chiều ngày thứ 2 mới được mổ lợn để bầy lên bàn thờ trước buồng treo tranh ảnh. Sau các bài múa của hai thầy trò cấp sắc là tiết mục múa chung của các chàng trai bản tham dự lễ. Nhạc cụ phục vụ cho múa là trống và chiêng, cứ 2 nhịp trống 1 nhịp chiêng liên hồi trong một bài múa. Tối ngày thứ 2, vào giờ Ngọ, người được cấp sắc ngồi lên một chiếc ghế con. Hai ông thầy và bố đẻ lấy 3 bát mỡ lợn có bấc đốt lửa đặt lên đỉnh đầu và hai vai của người được cấp sắc (ngày nay người ta thường dùng đèn hoa kỳ thay cho bát đựng mỡ). Đây là phong sắc truyền tín ngưỡng của thầy cho con. Sáng ngày thứ 3, thầy cúng và các chàng trai bản vẫn tiếp tục múa và phát bánh nếp (gói giống bánh tẻ) cho trẻ con. Trong ngày này có tiết mục múa cảm ơn thần linh của thầy mo (cù nhụn). Ông thầy này có người đọc lời dẫn dắt cho điệu múa. Khi thầy mo hô to là lúc thầy nhập đồng, có thể nhảy lên trước cửa nhà, lúc này 2 người được bố trí đứng hai bên cửa phải nhanh tay giữ lại, nếu không thầy mo sẽ nhảy ra ngoài và bay lên trời. Buổi trưa ngày thứ 3, gia chủ mới được pha thịt lợn để luộc bầy mâm cỗ, mời bà con cả bản đến ăn mừng. Riêng hai ông thầy mỗi người được chia 1 đùi và 1 thủ lợn. Khi thầy ra về có người gánh thịt tiễn đưa. Người được cấp sắc được nghỉ 3 ngày, không được đi chơi và phải ăn hết 1 túm gạo, 1 quả trứng trong một bữa. Sau khi được cấp sắc xong, người Dao cảm thấy con lớn nhanh, thông thái hơn. Đây là phong tục độc đáo nhất của người Dao tiền.

 

                                                                                             Đ.P.L

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter