• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đặc sắc lễ cưới “Láu cháu dìu” của người Cao Lan ở Yên Bái
Ngày xuất bản: 25/07/2016 3:22:27 SA

Nguyễn Mạnh Hùng

 Cao Lan là một trong những tộc người bản địa, cư trú lâu đời tại Yên Bái, đã hình thành nên nhiều cộng đồng, làng bản. Người Cao Lan ở Yên Bái sinh sống tập trung, phân bố ở các vùng trung du, vùng thấp và ở khu vực phía Đông của tỉnh. Đồng bào sống ổn định, không di cư và không phát triển địa bàn cư trú ra nhiều vùng khác nhau. Người Cao Lan hiện nay có khoảng trên 8460 người, cư trú tập trung ở huyện Yên Bình và một số ít cư trú ở huyện Trấn Yên, Văn Yên, Lục Yên tỉnh Yên Bái.

Người Cao Lan ở Yên Bái có truyền thống văn hóa dân gian rất phong phú và đa dạng. Trải qua thời gian cùng với những tác động của cuộc sống hiện đại đã làm mai một phần nào các giá trị văn hóa trong kho tàng văn hóa dân gian Cao Lan, song các giá trị di sản cốt lõi vẫn được đồng bào gìn giữ, bảo tồn và phát huy. Một trong các giá trị độc đáo đó chính là lễ cưới truyền thống. Lễ cưới của đồng bào là không gian văn hóa tích hợp rất nhiều các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian đặc sắc của dân tộc Cao Lan.

Lễ cưới truyền thống Cao Lan được trải qua nhiều giai đoạn, nghi lễ. Lễ xem tuổi với các nghi thức như nghi thức tìm ông Mòi, hay còn gọi là ông Mờ (sếnh Mòi). Ông Mờ (ông Mòi) là người rất quan trọng trong lễ cưới truyền thống của người Cao Lan. Ông Mờ thay mặt chủ nhà tiến hành các nghi thức của lễ cưới, đại diện cho chủ nhà đứng ra lo liệu và tiến hành các nghi thức truyền thống theo nguyên tắc mà cha mẹ cô dâu, chú rể không thể đứng ra làm thay được. Tiếp đó là đến nghi thức xem lá số, so tuổi tại nhà (Cáp lìu). Đây là nghi thức quan trọng để tính tuổi của cô dâu xem có hợp với chú rể, hợp với cha mẹ chú rể hay không trước khi tiến hành các bước tiếp theo của lễ cưới. Nghi thức này được diễn ra ngay tại nhà chú rể, do cha mẹ chú rể tổ chức. Một nghi thức khác khá quan trọng đó là nghi thức cải sát. Ở trường hợp vợ chồng có số xấu, số sát nhau hoặc có số sát bố, mẹ, không lấy nhau được, thầy cúng sẽ thông báo cho đôi vợ chồng đó biết. Trường hợp hai bên yêu nhau và nhất quyết lấy nhau thì phải thực hiện nghi thức cải sát trong lễ cưới để hóa giải những điều xấu.

Tiếp theo là lễ ăn hỏi (phạn lựi- phạn ngằn). Cũng như các dân tộc khác, lễ ăn hỏi là một nghi thức chính bắt buộc trong lễ cưới. Đây là một trong những bước quan trọng nhất trong lễ cưới truyền thống của người Cao Lan ở Yên Bái. Lễ vật trong lễ ăn hỏi bao gồm: 01 đôi gà trống thiến (đây là lễ vật quan trọng nhất để dâng cúng tổ tiên, vì gà trống thiến là biểu trưng cho sức mạnh và sự thịnh vượng); 02 kg gạo nếp, 04 kg gạo tẻ, 24 cặp bánh dày, 02 chai rượu, 01 buồng cau, trầu không, 01 kg chè, thuốc lào và các đồ dùng, dụng cụ để sử dụng khi nấu cơm tại nhà gái (như dao thớt, muối mắm, gia vị…). Trong lễ ăn hỏi còn có nghi thức quan trọng là nghi thức thách cưới. Đại diện hai bên gia đình bao gồm ông trưởng họ nhà gái ("ông ao"- ông chú), ông đại diện bên họ ngoại (ông cậu) và bên nhà trai chỉ có một ông đại diện đến ăn hỏi, tiếp nhận ý kiến phán lễ vật thách cưới của nhà gái để về truyền lại, báo cáo cho chủ nhà bên gia đình nhà trai lo liệu sắm sửa.

Lễ cưới chính thức của người Cao Lan gọi là "láu cháu dìu". Ở đây diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng. Lễ cúng tổ tiên là một trong các bước đầu tiên của lễ cưới. Sau khi mọi công việc cho lễ cưới đã được chuẩn bị hoàn tất, vào sáng sớm ngày tổ chức đi đón dâu, trước khi lên đường, gia chủ làm mâm cơm đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Mâm cơm cúng gồm có bánh dầy, gà và các thức ăn được dùng để đãi đoàn đón dâu lên đường. Ông thầy (săn súi) đứng trước bàn thờ thắp nhang cúng khấn mời tổ tiên trong dòng họ về dự, sau ba ngày sẽ hoá vàng mời các tổ tiên đi khi kết thúc lễ cưới.

Đoàn gánh cưới bắt đầu lên đường đi đón dâu, ra cửa nhà đầu tiên là ông Mờ (ông mòi), tiếp đó là phù rể (pùn chợu), người điều hành (pu tào), phù dâu của nhà trai (chép mụ), 4 phù rể gánh đồ cưới (pu mạc) và cuối cùng là ông thầy cúng (săn súi) đi sau cùng để bảo vệ và phù phép cho cả đoàn đón dâu.

Sau khi vượt qua các chướng ngại vật, các cửa ải khó khăn do trẻ trâu trong làng đặt ra hoặc các cửa ải do nhà gái bố trí sắp xếp trên đường đi, đoàn đón dâu vào tới sân của nhà gái và chuẩn bị lên sàn. Trước khi bước chân lên cầu thang để lên sàn nhà, đoàn đón dâu phải trải qua một cửa ải vô cùng khó khăn và quan trọng tại chân cầu thang do nhà gái đặt ra là “Làn mùn tắng hơi” cửa ải đầu cầu thang. Ở đây bắt đầu bước vào các nghi thức của lễ cưới, đòi hỏi sự nhanh nhạy, hoạt bát, tháo vát và tài năng của ông Mờ và người điều hành để cởi từng nút thắt, đưa đoàn đón dâu lên được nhà sàn. Ông Mờ phải giỏi hát đối đáp, để ứng đáp lại những câu đối do nhà gái đặt ra thì mới qua được cửa ải. Mỗi lần đối đáp là một lần mời rượu, đòi hỏi ông Mờ nhà trai phải là người uống được rất nhiều rượu thì mới qua được cửa ải này.

Nhà gái hát: “Hò mợt hồng hồng làn lù háu/ Hò mợt hồng hồng làm lù tàu/ Dực dơu co sì tờn xịnh sắt/ Mấy dờu co sì sau cắm sau...”

Dịch nghĩa: “Vật gì đo đỏ chắn đường đi/ Vật gì đo đỏ ngăn lối vào/ Nếu có lời hát xin cho biết/ Không có lời hát xin cất mau

Nhà gái lại hỏi: “Héc lài tạo, mởn tửi héc nhằn sợi ná chau/ Mợn tựi héc nhằn sợi ná lểnh/ Dợu một héc nhằn pá mùn tàu

Dịch nghĩa: “Em hỏi đoán chàng từ đâu đến/ Ngày lành tháng tốt chàng đã định/ Vậy nghe hát mấy câu ca

Nhà trai: “Héc lài tạo tủi sị héc nhằn sợi cống chau/ Tựi sị héc nhằn sợi cống lệnh/ Tựi dợu tạm tạm pá mùn tàu”

Dịch nghĩa: “Anh là khách lạ từ xa hôm nay đám cưới đến nhà của em/ Gồng gồng gánh gánh mang theo tất cả thủ tục đem sang gửi nàng”

Sau nghi thức hát vượt cửa ải, đoàn gánh cưới mới được mang lễ vật vào nhà. Toàn bộ số lễ vật sau khi kiểm tra được ông trưởng họ nhận lấy và cho bày những lễ vật chính lên bàn thờ làm lễ cúng thông báo với tổ tiên. Để bắt đầu nghi thức cúng, chú rể tiến lại bàn thờ và lạy tổ tiên của nhà gái 3 lạy. Nghi thức này thể hiện sự tôn trọng, kính cẩn trước tổ tiên của gia đình nhà gái, đồng thời cầu khấn xin tổ tiên về phù hộ, chứng giám cho lễ vật của chú rể mang sang. Tại nhà gái, gia đình sẽ tổ chức cuộc hát đối đáp và các nghi thức vui vẻ uống rượu chúc mừng nhau, tiếp đón đoàn nhà trai trong đêm tổ chức lễ cưới.

Tới giờ tốt để xuất giá, trước khi đón dâu, thầy cúng thay mặt chủ nhà tiến hành làm lễ cúng xuất giá trước bàn thờ tổ tiên cho cô dâu. Ông thầy thắp hương lên bàn thờ xin phép các cụ, tổ tiên là sắp tới giờ Dần, giờ mà được đồng bào Cao Lan quan niệm là giờ đẹp nhất trong các giờ để xuất giá lấy chồng của cô dâu (khoảng 4h sáng). Ông thầy khấn xin tổ tiên phù hộ cho cháu đi lấy chồng được vẹn toàn, sống xứng đáng với gia đình nhà chồng, ngoan ngoãn biết ăn, biết ở, biết làm việc để báo hiếu gia đình…

Khi đoàn đón dâu trở về tới nhà trai, gia đình đã chuẩn bị đầy đủ từ cỗ bàn, khách khứa, anh em bạn bè tới dự chung vui và đón đợi cô dâu về để cùng uống rượu mừng vui cho gia chủ. Ngay khi đoàn đón dâu trở về, các mâm cơm, mâm lễ được chuẩn bị mang lên để tổ chức lễ cúng tổ tiên, "nhập khẩu" cho cô dâu vào dòng tộc nhà trai, sau đó mời mọi người cùng nâng chén rượu chúc mừng.

Lễ kết hôn (Sì sằn cao pui) là nghi thức quan trọng nhất trong lễ cưới truyền thống của người Cao Lan ở Yên Bái. Sau nghi thức này, đôi vợ chồng trẻ trao nhẫn cho nhau và chính thức nên vợ nên chồng, sống với nhau tới đầu bạc răng long. Ở những gia đình giàu có, khá giả, ngoài tiền, bạc cho con làm của hồi môn đi lấy chồng, họ còn cho con cả trâu, bò làm vốn liếng làm ăn sau này, được người gánh đồ của nhà gái dắt đi theo ngay sau đó. Khi kết thúc các nghi thức, nhà trai làm lễ “slộng lồng” (trao quà biếu cho người gánh cưới của nhà gái). Lúc này ông gánh đồ của nhà gái cũng đứng dậy phát biểu và trao quà cưới của gia đình nhà gái là của hồi môn cho hai vợ chồng trẻ, thông báo tuyên bố cho những đồ gì, vật gì trước toàn thể quan khách và anh em bên nhà trai.

Nghi thức cuối cùng trong lễ cưới truyền thống của người Cao Lan ở Yên Bái là lễ lại mặt “tờu lời tai” bên nhà gái. Người Cao Lan ở Yên Bái cũng tổ chức nghi thức lại mặt ngay sau ngày cưới, nhưng điều đặc biệt, họ không chỉ lại mặt riêng bố mẹ vợ, mà còn phải tổ chức lại mặt gia đình nhà ông Mờ, vì sau lễ cưới, 2 vợ chồng trẻ phải nhận ông Mờ làm bố mẹ đỡ đầu, có trách nhiệm “Sống thăm, chết giỗ” như bố mẹ đẻ.

Lễ cưới truyền thống của dân tộc Cao Lan ở Yên Bái hội tụ rất nhiều giá trị văn hóa dân gian độc đáo, nằm trong tổng hòa văn hóa của hơn 13 dân tộc bản địa cư trú lâu đời trên mảnh đất Yên Bái giàu bản sắc, góp phần làm nên diện mạo phong phú, đa sắc màu văn hóa các dân tộc tỉnh Yên Bái. Với một tỉnh miền núi nằm giữa hai vùng văn hóa (tả ngạn sông Hồng mang đặc trưng văn hóa của vùng Tây Bắc và hữu ngạn sông Hồng mang đậm sắc màu văn hóa vùng Đông Bắc), thì văn hóa dân gian của người Cao Lan nói chung và lễ cưới truyền thống nói riêng là những thành tố văn hóa vô cùng quan trọng còn gìn giữ, bảo lưu trong đời sống hiện nay, làm giàu thêm những giá trị của đời sống văn hóa người Cao Lan vùng hồ Thác Bà- Yên Bái./.

 

                                                                                             N.M.H

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter