• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đám cưới dân tộc Dao Quần trắng xã Ngòi A Huyện Văn Yên- tỉnh Yên Bái
Ngày xuất bản: 08/09/2016 3:04:13 SA

Hứa Xuân Thắng

 

Xã Ngòi A (huyện Văn Yên) có hai nhóm Dao là Dao Đỏ và Dao Quần Trắng cùng sinh sống. Trong đó nhóm Dao Quần Trắng chiếm số đông với khoảng 70% tổng số người Dao. Đồng bào Dao thường sống tập trung thành thôn bản. Họ làm nhà ở lưng chừng đồi hoặc khe suối. Nhà ở của đồng bào là nhà sàn, dài từ ba đến năm gian, cột tròn to, chân cột kê bằng đá, nước lần chảy quanh nhà, phía trước thường có ao cá, vườn tược. Cuộc sống chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp. Nhóm Dao Quần Trắng ở thôn Khe Vầu, xã Ngòi A, huyện Văn Yên đã cư trú nhiều đời với nhiều phong tục tập quán và đến nay vẫn lưu giữ được bản sắc riêng vốn có của mình.

Đám cưới của người Dao Quần Trắng ngày nay được tổ chức với đầy đủ thủ tục, nghi thức truyền thống. Trong  ngày cưới cô dâu, chú rể mặc quần trắng và đội nón truyền thống. Trai, gái chỉ được kết hôn khi đủ 18 tuổi trở lên. Ngày cưới bắt buộc phải trải qua 4 bước: So tuổi (gọi là Nại nhan, tức là đi hỏi dâu); báo tuổi (gọi là Ghìa tịnh- chính thức quyết định); định ngày cưới (gọi là Quyế lẩy); chính thức cưới (gọi là Thíp nham- mời rượu cưới)

Sau khi đã thực hiện xong ba bước đầu, ngày cưới chính thức được tiến hành theo trình tự nghi thức như sau:

Nhà gái tổ chức trước nhà trai một ngày. Trước ngày cưới của nhà gái, nhà trai phải mang lễ vật sang nhà gái để nhập tục, hay còn gọi là mua dâu (thời gian do thầy cúng định), lễ vật gồm: Một con lợn 50 kg móc hàm, 06 con gà trống, 10 lít rượu, gạo, một chiếc vòng tay bằng bạc trắng và tiền xu, kẽm… Tới nhà gái, đại diện nhà trai đưa một tờ giấy đỏ cho nhà gái, với ý nghĩa là đã mang đủ lễ vật theo yêu cầu. Nhà gái kiểm tra đầy đủ lễ vật thì ký vào tờ giấy đỏ, coi như nhà gái đã nhận đầy đủ lễ vật rồi mời đoàn đưa lễ dùng bữa cơm với gia đình.

Trước khi làm lễ cưới, theo giờ của thầy (đã được định trước), nhà gái phải làm lễ Cải sát cho cô dâu- hay còn gọi là tẩy cái bụi bặm đi, lấy cái may mắn cho cô dâu trước khi về nhà chồng và cầu mong Thần thánh, Tổ tiên phù hộ cho cô dâu, đi đâu làm gì cũng được bảo vệ, không bị ma xấu lợi dụng nhòm ngó… Vị trí đặt bàn thờ trong lễ Cải sát được lập gần bếp, sát buồng trong, gần buồng chú rể. Lễ vật gồm: 5 chén rượu, trầu cau, tiền xu kẽm. Khi làm lễ, cô dâu phải ra vái lậy tổ tiên ba lậy rồi ngồi quay lưng lại với thầy. Thầy khấn xong bài cúng, dùng dao phép có tua rua đập ba tiếng xuống nền sàn, và cầm hai thanh âm dương ném nhẹ xuống sàn. Khi nào hai mặt đều ngửa là đã được tổ tiên cho phép… Thầy cúng dùng nước Thánh, giấy Thánh, gạo, muối, rượu hòa với nhau vẩy vào người cô dâu và xung quanh bàn thờ để xua đuổi ma tà, khi đã làm xong các thủ tục thầy cúng dùng dây gai cúng (đã được chuẩn bị trên bàn cúng ) để nhập các thần vào dây đó và buộc vào tay cô dâu.  Ý nghĩa chiếc dây gai là để giữ vía cho cô dâu về nhà chồng… Sau khi làm xong lễ Cải sát, thầy cúng phải làm thêm một thủ tục nữa, chuẩn bị một mâm cúng để báo cáo cho tổ tiên biết về lễ vật của nhà trai đã mang tới đầy đủ và dán bùa phép ở trong nhà để bảo vệ cho nhà chủ làm lễ cưới không bị ma xấu quấy nhiễu. Lễ vật trong mâm cúng gồm: 2 con gà, 1 bộ gan lợn, 3 chén rượu, 3 bát cơm, 3 đôi đũa. Mâm cúng được đặt sát bàn thờ. Khi đã làm xong thủ tục này, ông thầy đứng lên cầm dao phép nhúng vào chậu nước thánh vẩy xung quanh nhà, kết thúc lễ Cải sát và báo cáo tổ tiên. 

Bên nhà trai, chú rể cũng phải làm lễ Cải sát. Các thủ tục cúng giống bên nhà gái, chỉ khác nhà gái về "Cái sảo" (đặt đường âm, dương) và lễ vật trong mâm cúng báo cáo Thánh thần, Tổ tiên về việc của ngày cưới, dán giấy bùa bảo vệ gia đình. Sáng hôm sau, đến giờ đã định, nhà trai chuẩn bị sang nhà gái, mặc quần áo cưới dân tộc Dao (quần trắng, đội nón, quạt truyền thống). Đoàn sang nhà gái gồm 11 người, khi đón dâu ở nhà gái là 14 người. Trưởng đoàn là ông Mờ, thứ hai là ông Mối. Trước khi sang nhà gái, ông Thầy dặn ông Mờ, bố, mẹ bảo ban các cháu khi đi trên đường sang nhà gái theo đúng nghi lễ… Khi đoàn đến bản nhà gái, ông thầy Mờ chuyển cho mỗi người một tờ giấy đỏ (đã chuẩn bị sẵn) thắp hương và hóa vàng, trình làng bản rằng chúng tôi là bên nhà trai xin được vào làng có việc như đã báo cáo trước, sau đó lại đi tiếp. Khi đến gần nhà gái, ông Mờ cử hai người đại diện ra hú hai tiếng báo hiệu cho nhà gái là đoàn đã tới. Trong phong tục của dân tộc Dao Quần trắng, khi đoàn nhà trai đến chưa được vào nhà gái đón dâu ngay mà phải vào nhà "tạm" đợi được giờ thì mới được vào nhà gái. Đến gần trưa, hai người đại diện nhà trai sang nhà gái xin cơm và xem giờ chính thức, phải mang theo hai đồng tiền kẽm để xin vào cửa thầy xem giờ chính thức để đoàn nhà trai vào nhà gái. Xong thủ tục đó nhà gái làm hai mâm cơm sang nhà tạm cho đoàn nhà trai. Giờ đẹp đã đến, đoàn nhà trai vào nhà gái. Đến chân cầu thang nhà gái thì gặp chướng ngại vật do nhà gái dựng lên là cắm hai chiếc que có 03 dây đỏ bắt chéo, phía trên đầu mỗi que có hai chiếc vòng bạc và tiền… Chú rể phải bịt kín mặt bằng chiếc khăn mầu vàng, tay cầm chiếc quạt che mặt… Nhà gái hát đối, nhà trai bắt buộc phải trả lời. Cuộc hát diễn ra cho đến khi nào nhà gái thấy ưng ý những câu đối đáp của nhà trai, sẽ cử một người xuống tháo rào cản hát đối để đoàn nhà trai lên nhà. Khi lên tới trên nhà, ông thầy bên nhà gái ra đón và làm phép. Nhà trai đưa lọ rượu ngọt được bịt kín và một sâu tiền xu có lỗ trong bát hương nhỏ (chưa có hương), ông thầy nhà gái nhận và đặt dưới bàn thờ Bàn vương họ. Chú rể và hai chú bé (1) (gọi là linh cẩu), cùng chú rể vào buồng nhỏ đã được định sẵn, còn ông Mờ và mọi người thì đi ra gian chính chỗ có ông thầy cúng làm lễ. Chú rể ngồi ở buồng một lúc thì ông thầy gọi ra lạy tổ tiên bên nhà gái, xong lại trở về vị trí cũ. Còn ông thầy Mờ ở ngoài tiếp tục hát đối đáp với đoàn nhà gái. Đến thời gian đã định, cô dâu vào gặp mặt chú rể (gọi là chạm mặt). Chú rể chùm cái khăn lên trên đầu, tay cầm quạt che mặt. Cô dâu mặc quần áo cưới, đội mũ có sừng, tay cũng cầm quạt che mặt tiến vào phòng chú rể, nhìn mặt rất nhanh xong liền chạy vụt ra. Ở phía ngoài vẫn cúng và hát đối...

Sáng hôm sau, đến giờ đẹp ông thầy mở lọ rượu và làm lễ với nhà gái (gọi là nhận họ hàng). Hai bên cùng ăn cơm uống rượu. Khi ăn cơm, chú rể có một rể bạn giúp việc, bưng rượu lạy bàn thờ tổ 03 lạy, lạy ông, bà, bố, mẹ, họ hàng 03 lạy, vừa lạy vừa uống rượu để thể hiện đạo làm con và thể hiện sức vóc trai tráng của mình là biết uống rượu, biết bắt cá và đi rừng… Sau khi làm xong thủ tục nhận họ, chú rể để khăn vàng lại cho ông Mờ rồi một mình xuống cầu thang về nhà mình. Tiếp theo ông Mờ hát xin đón cô dâu về nhà chồng. Cô dâu từ trong buồng (chùm khăn kín mặt) được hai "linh cẩu" dẫn đi đường. Trước khi ra khỏi cửa, bên nhà gái làm một số trò chơi vui nhộn để thể hiện sự đoàn kết hai gia đình. Mấy cháu nhỏ chạy ra đóng cửa lên xuống, ông thầy Mờ phải ra nói chuyện và cho tiền các cháu thì mới mở cửa được (cho tượng trưng). Xuống tới chân cầu thang, cô dâu và đoàn dừng lại, bà đưa (người phụ nữ được nhà gái chọn để đưa con gái mình về nhà chồng) trút bỏ váy áo ngoài như yếm, vòng bạc của nhà gái để lại. Bà nội và người thân dặn dò cô dâu… Ông Mờ hát chào nhà gái và cô dâu lên đường về nhà chồng. Khi gần tới nhà trai, đoàn đón dâu cũng bắt buộc phải ở nhà "tạm", thủ tục cũng như chú rể sang nhà gái. Đến giờ đẹp đã định, cô dâu mới được vào nhà chồng. Khi đến cầu thang, bà đón lấy trang phục của nhà trai mặc cho cô dâu như váy, yếm, vòng bạc, và che mặt bằng khăn vàng cho cô dâu lên nhà. Tới cửa, ông thầy cúng bên nhà trai làm phép nhập ma về nhà mình và tẩy hết cái xấu trên đường đi. Chú rể ở trong nhà ra nhập vào đoàn đưa cô dâu vào nhà. Hai “linh cẩu” và hai phù dâu đưa cô dâu vào trong buồng. Một lúc sau, ông thầy gọi cô dâu ra lạy tổ tiên và làm lễ trừ tà cho cô dâu, chú rể. Nhà trai dọn mâm mời mọi người, đồng thời cô dâu bê khay cơm rượu đi nhận họ hàng bên nhà trai từ cao xuống thấp (thủ tục cũng như bên nhà gái)

Sáng hôm sau, hai phù dâu và cô dâu về nhà gái trước. Sau khi làm lễ lại mặt, chú rể và cô dâu ở lại nhà gái một đêm để cám ơn ông Mờ và bạn bè, họ hàng tới ăn thủ lợn, thủ trâu, thủ bò từ hôm trước và kết thúc đám cưới./.

 

H.X.T

 

 


(1) Hai chú bé (linh cẩu) của đoàn nhà trai đi để bảo vệ chú rể và cô dâu trên đường về nhà chồng.

 

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter