• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Tên gọi và nguồn gốc của khắp cọi
Ngày xuất bản: 24/05/2016 2:10:12 SA

Vũ Thị Mai Oanh

Khắp cọi vốn rất gắn bó với đời sống đồng bào Tày không chỉ trong diễn xướng lễ hội như ngày nay mà còn gắn với đời sống hàng ngày của họ từ xa xưa. Khi muốn tìm được người yêu, muốn đi đến hôn nhân bền vững, nam thanh nữ tú ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái phải biết khắp cọi giao duyên. Vì thế họ phải học khắp cọi từ khi còn nhỏ. Nếu không có “vốn” bài hát nhất định thì thật khó có thể đối đáp trong các cuộc hát giao duyên. Vậy khắp cọi là gì? Nguồn gốc của loại hình này như thế nào? Trước hết cần khẳng định rằng: khắp cọi là một trong những tiểu loại của lượn- một loại hình dân ca của dân tộc Tày.

Căn cứ về mặt nội dung: Trong cuốn “Văn hóa bản mường Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh bước đầu đưa ra những khái niệm về lượn: “Lượn thường được hiểu theo hai nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa rộng, lượn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca Tày, bao gồm cả then (lượn then), hát đám cưới (lượn quan làng), phuốc pác (lượn phuốc pác) và phong slư (lượn phong slư). Theo nghĩa hẹp, lượn chỉ là những điệu hát giao duyên của người Tày mà thôi” [1,tr.142]. Cả hai cách hiểu đều có lý, song có lẽ phổ biến hơn cả là cách gọi tên lượn theo nghĩa hẹp, tức là bộ phận hát giao duyên đối đáp của người Tày.

 Chúng tôi cũng thấy sự tương đồng về nội dung của khắp cọi với nội dung những bài “lượn” theo ý kiến của cố nhà văn Vi Hồng. Sau khi ông chỉ ra ý kiến của các cụ nho học, ý kiến cắt nghĩa từ nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc Tày- Nùng, Vi Hồng nghiêng về ý kiến của cụ Nông Nguyễn Mô ở Hòa An, Cao Bằng, trong đó chỉ ra: “vjén” trong tiếng Tày- Nùng hiện đại có nghĩa là “ru”; “vjén” còn có nghĩa là lời khuyên bảo dỗ dành. Nội dung những bài lượn đúng là những lời khuyên bạn, là lời rủ gọi bạn tình, lời dỗ dành, vỗ về bạn bè, đồng loại thân thương. Trong rất nhiều bài lượn, những từ “khuyên bạn”, “khuyên em” rồi những nhóm từ cố định: rủ bạn, rủ anh, rủ em cùng đi vào con đường tình nghĩa luôn luôn lặp đi lặp lại.” [2, tr.31]. Vi Hồng cũng chia sli, lượn làm hai loại: sli, lượn tự sự- là hình thức sinh hoạt văn nghệ quần chúng có mang hơi thở trữ tình và sli, lượn trữ tình- là loại lượn chủ yếu là những lời trò chuyện tâm tình giữa thanh niên nam nữ nhưng vẫn không hoàn toàn gạt bỏ những bài mang tính tự sự [2, tr.36].

Căn cứ về mặt hình thức nghệ thuật: Theo Vũ Ngọc Khánh, lượn của người Tày gồm ba loại: Lượn cọi, lượn slương và lượn Nàng Hai, trong đó “lượn cọi là loại lượn sử dụng vần lưng để kéo dài khổ thơ” [1, tr.142-143]. Các tác giả ở Viện dân tộc học cũng thống nhất: “Các thể loại dân ca các dân tộc đều có thuật ngữ để chỉ. Người Tày thường gọi là lượn với các loại lượn phuối pác (hát nói, tự sự hay đối đáp), lượn quan lang hay cổ lẩu (lượn đám cưới), lượn phong slư (ngâm thơ). Có khi còn có lượn then. Có thể phân chia ra lượn cọi, loại dân ca thường dùng vần lưng để kéo dài khổ thơ, và lượn slương, loại dân ca thường dùng các bài thất ngôn tứ tuyệt, khi hát thường nhập tâm hay ứng khẩu” (3, tr.28]

Trong cuốn Văn hóa dân gian Tày- Nùng ở Việt Nam”, các tác giả lại chia “lượn” thành hai loại: “Lượn cọi và lượn slương là hai hình thức dân ca giao duyên tiêu biểu của nam và nữ dân tộc Tày. Lượn cọi phân bố chủ yếu ở phần phía Tây sông Cầu, nội dung đa dạng, còn lượn slương thì phổ biến chủ yếu vùng Tày Lạng Sơn” [4, tr.69]. Các tác giả còn phân biệt dựa theo thể thơ: lượn cọi dùng thể thơ thất ngôn còn lượn slương dùng thể tứ tuyệt. Lục Văn Pảo cũng thống nhất với cách chia như trên và khẳng định: “Lượn Tày chỉ còn lại hai loại: Lượn slương dùng lối thơ thất ngôn tứ tuyệt là chính; lượn cọi thì dùng lối thơ thất ngôn gieo vần chân triệt để và dễ kéo dài các khổ thơ” [5, tr.7].

Lã Văn Lô, Hà Văn Thư trong cuốn Văn hóa Tày Nùng lại nói: “Tình ca đồng bào Tày gọi là “lượn”[…]. Lượn có ba hình thức chính: “lượn khắp” theo thể thơ tự do, lượn cọi theo thể thơ phong slư (thể thơ trường thiên bảy chữ gieo vần lưng), lượn Lạng Sơn theo thể thơ tứ tuyệt”.

Ở đây, mặc dù cách phân chia của các tác giả có điểm khác nhau, song đều căn cứ vào thể thơ. Khắp cọi sử dụng thể thơ tự do, dùng vần lưng để kéo dài khổ thơ. Vì vậy, chúng tôi thấy sự gần gũi về thể thơ của khắp cọi với “lượn cọi” theo quan điểm của Vũ Ngọc Khánh và “lượn khắp” theo quan điểm của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư.

Trong một tài liệu khác, chúng tôi cũng bắt gặp tên gọi “lượn khắp” dùng để chỉ cả khắp cọi của Lục Yên (Yên Bái) và iếu của Bắc Quang (Hà Giang):  “Lượn khắp dùng thể thơ tự do. Loại lượn này chỉ có ở một số vùng thuộc Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang. Nếu như ở người Tày có điệu “lượn”, người Nùng có điệu “sli” thì người Thái có điệu “khắp”. Ba điệu trên tuy có chi tiết khác nhau nhưng có những điểm chung cơ bản giống nhau, từ đó có thể thấy là cùng một gốc mà ra. Ta có thể coi điệu “khắp” ở vùng Tày Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái là gạch nối giữa điệu “khắp” của người Thái Tây Bắc và điệu “lượn” của vùng Tày Đông Bắc.” [4, tr.242]. Đây có thể coi là một cách lý giải cho sự xuất hiện của khắp cọi ở Lục Yên và iếu của Bắc Quang, Hà Giang. Tuy nhiên, iếu và khắp cọi có phải là một?

Trong cuốn Iếu dân ca dân tộc Tày, các tác giả Hoàng Văn Chữ, Nông Phúc Tước, Hoàng Nừng đã đồng nhất iếu ở Bắc Quang (Hà Giang) với khắp cọi: “ngoài tên gọi iếu, đồng bào còn có những tên gọi khác như: “hiếu”, “cằm khắp”, “khắp cọi”. Từ đó các tác giả đặt ra vấn đề: “Có hai điểm đáng để các nhà nghiên cứu quan tâm lý giải: ấy là về chủ thể sở hữu và có yếu tố giao thoa văn hóa chi phối hay không giữa dân tộc Thái (Tây Bắc) và Tày (Việt Bắc), “khắp cọi” có phải là danh từ ghép giữa Thái và Tày? Vì trong tiếng Thái “khắp” có nghĩa là hát, còn “cọi” là tên một làn điệu dân ca trữ tình của người Tày. Bởi vì địa bàn lưu trữ loại hình dân ca iếu là vùng giáp ranh giữa hai miền Tây Bắc và Việt Bắc, nơi cư ngụ của hai dân tộc bản địa gốc là Thái và Tày; mà hai tộc người này lại có nhiều nét tương đồng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán văn hóa nói chung” [7, tr6-7].

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thấy khắp cọi và iếu không phải là một tuy đều có chung nguồn gốc. Trong quá trình lý giải vấn đề, chúng tôi cũng truy tìm nguồn gốc của tên gọi và những đặc điểm riêng biệt của “khắp cọi” để từ đó tạm đưa ra một khái niệm về loại hình dân ca Tày độc đáo này.

Về mặt tên gọi: Chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào giải nghĩa một cách rõ ràng từ “iếu” ngoài cách định nghĩa của tác giả Hoàng Thị Minh Nguyệt trong luận văn “Hát iếu ở Bắc Quang, Hà Giang- Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật”: “Hát iếu là những bài hát đối đáp giao duyên giữa nam nữ thanh niên, nhằm bày tỏ tình cảm lứa đôi, ca ngợi cuộc sống” [8, tr.22]. Ở huyện Yên Bình, huyện giáp ranh với Lục Yên có một làn điệu mà nội dung có sự tương đồng với khắp cọi ở Lục Yên. Tuy nhiên, để phân biệt, nhiều người gọi điệu lượn này ở Yên Bình là “cọi”, ở Lục Yên là “khắp”. Riêng ở Lục Yên, loại hình này có những cách gọi khác nhau như: “hát khắp”, “khắp cọi”, hát nôm”, “hát iếu”,… Chúng tôi lựa chọn tên gọi khắp cọi như một loại hình nhỏ của lượn khắp để vừa nói lên được đặc điểm chung của thể loại, vừa mang tính khu biệt với “cọi” ở huyện Yên Bình, “iếu” ở Bắc Quang (Hà Giang) và “khắp” của người Thái.

Về mặt diễn xướng: Khắp cọi ở Lục Yên khi lên giọng “ứ ơi” ngân dài rồi bắt vào lời hát luôn, còn hát cọi ở Yên Bình “ứ ơi ứ hợi” lên xuống để đủ độ ba nhịp mới bắt vào lời hát. Bà Hoàng Thị Cấp, một nhà sưu tầm iếu ở Hà Giang cũng có cách phân biệt tương tự như Hoàng Văn Chữ, Nông Phúc Tước, Hoàng Nừng giữa iếu cọi: “Cọi là những bài mang tính chất cố định về mặt văn bản, người diễn xướng phải học thuộc, khi đối đáp, tùy thuộc vào vốn của từng người mà cuộc hát kéo dài, có khi có “thầy” đi cạnh để “gà” cho khi bí. Ở iếu, biên độ sáng tác, ứng khẩu rộng hơn, nhiều và tự do hơn, người tham gia iếu phải thông minh, nhanh nhạy, có tài ứng tác. Vì vậy, dung lượng một bài cọi thường dài hơi hơn, một bài iếu có khi chỉ đôi câu tuy cũng có những bài mang tính khuôn mẫu để người iếu vận dụng và sáng tạo [nguồn Internet]. Như thế, ở đây có thể thấy cọi ở Yên Bình tương đồng với khắp cọi ở Lục Yên về mặt văn bản mang tính cố định nhưng lại khác về diễn xướng. Iếu ở Hà Giang tương đồng với khắp cọi về mặt diễn xướng nhưng lại có nét khác biệt về phần ứng khẩu, chỉ tương đồng ở những bài mang tính “khung sườn”.

Sự khác biệt về diễn xướng nêu trên có thể lý giải phần nào bằng nhận định từ cuốn Dân ca Tày”- (1961) của Nhà xuất bản Âm nhạc Hà Nội. Các tác giả cho biết: “Mỗi nơi một tiếng lượn, mỗi tiếng lượn có giai điệu khác nhau”, “Lượn Tày ở mỗi nơi một khác. Cùng dùng thể thơ thất ngôn, lượn cọi ở Hà Giang khác với lượn cọi ở Lào Cai. Riêng trong tỉnh Hà Giang, lượn cọi vùng Bắc Quang cũng khác với lượn cọi vùng Vị Xuyên”.

Xét về mặt quy tắc sử dụng: Các tác giả cuốn Iếu dân ca dân tộc Tày cho rằng: “Đối tượng iếu phải là người từ nơi xa đến, người cùng họ, cùng làng, cũng xã, những người quen biết, hàng ngày thường gặp nhau thì không bao giờ iếu với nhau”, địa điểm diễn xướng là “ở nhà một gia chủ nào đó có đám cưới hoặc một địa điểm công cộng tổ chức lễ hội xuân” [7, tr.7]. Tuy nhiên, ở Lục Yên, nguyên tắc này có phần nới rộng hơn và gần gũi hơn với nguyên tắc của lượn Tày. Khắp cọi giống iếu ở chỗ đều là làn điệu dân ca trữ tình đối đáp giữa nam và nữ nhưng nếu như ở iếu thường chỉ có một trai, một gái, và đó phải là trai chưa vợ, gái chưa chồng thì ở khắp cọi không nhất thiết phải như vậy. Tuy nhiên có một nguyên tắc khắp cọi là những người đã có gia đình thì khi đi chơi thì không được rủ nhau xuống thăm Mường Nước. Ở khắp cọi cũng không nhất thiết là khi có người nơi khác đến mới hát mà có thể là người cùng làng, cùng xã cũng có thể hát với nhau. Không gian khắp cọi cũng là ở các lễ hội mùa, nhưng thông thường là ở nhà một gia chủ nào đó có trai thanh, gái lịch, cũng không nhất thiết phải là ở nhà gia chủ có đám cưới. Điều đó là do ở Lục Yên xưa kia, như đã nói, khắp cọi có vai trò rất quan trọng trong việc tìm bạn đời.

Xét về nội dung văn bản: Có thể thấy sự gần gũi trong nội dung các bài khắp cọi ở Lục Yên với lượn cọi Yên Bình (Yên Bái) và hát iếu ở Bắc Quang (Hà Giang) là do sự tiếp giáp về mặt địa lý giữa các vùng. Ở đây có sự giao thoa về mặt văn hóa. Tuy nhiên, qua sự đối chiếu, so sánh các văn bản, chúng tôi thấy văn bản của ông Hoàng Quang Nhạn không trùng khớp với các văn bản trong cuốn Iếu dân ca dân tộc Tày, cuốn Cọi bạn và phong slư chọn lọc của ông Hoàng Tương Lai ở huyện Yên Bình hay ngay cả cuốn Lượn cọi của Lục Văn Pảo. Hơn nữa tất cả các cuốn sách vừa nêu đều có cách sắp xếp các chương mục khác nhau. Điều này có thể lý giải bằng ý kiến của chính nhà sưu tầm Lục Văn Pảo trong cuốn Lượn cọi nêu trên: “Các bản nôm sưu tầm từ nhiều địa phương cho thấy không có những văn bản hoàn toàn giống nhau về câu chữ và cả chương mục. Chúng chỉ có thể giống nhau ở những chương lớn như mừng ruộng, mừng nhà, mừng gia chủ chứ ít khi thấy giống nhau cả câu, cả đoạn. Còn bố cục những chương lớn cũng hiếm có hai bản của hai địa phương giống nhau hoàn toàn. Điều này phản ánh một thực tế là khoảng 50 năm về trước, những trí thức Tày có nho học ở các vùng đều là những “nhà sáng tác” thơ lượn. Chính vì vậy, ta thấy các bản lượn đều đẫy rẫy những địa danh của các vùng nhưng lại không hoàn toàn của địa phương nào cụ thể […]. Lượn không phải được sáng tác một lần là xong và bởi sau này các địa phương chép thiếu hoặc sai lạc nên mới xảy ra sự khác nhau như nhiều người vẫn tưởng. Các bản nôm của các vùng còn lại đều nói nhiều về địa phương mình đã chứng minh điều đó” [Sđd. tr7].

Tên gọi khắp cọi còn liên quan tới nguồn gốc tiếng hát khắp cọi ở huyện Lục Yên. Ông Hoàng Quang Nhạn ở xã Mường Lai cho biết, lúc còn nhỏ đã được nghe cha kể lại rằng: Ngày xưa có một ông cụ già trong làng ra ngồi trên hòn đá bên bờ suối câu cá. Bỗng đâu có ngọn gió ào qua bụi tre bên bờ suối nơi ông ngồi. Cơn gió tác động vào cây tre cọ vào nhau phát ra âm thanh kẽo kẹt hòa quyện cùng với thác nước chảy, nghe hay làm sao. Thổn thức lòng người, ông già tự dưng mở miệng hới lả vọng theo, thấy người thanh thản, nhẹ nhõm, quên cả cái đói, cái mệt. Ông già nghĩ: có thể Thiên Nhan Thượng Đế đã ban thưởng tiếng hát cho người Tày mình đây! Ông về nhà gọi mọi người đến truyền dạy lời hát. Tuy nhiên, để lời hát được hấp dẫn hơn thì phải có nhạc cụ kèm theo. Ông lấy da ếch bọc ống nứa, căng 2 sợi dây tơ tằm rồi bện mấy sợi lông đuôi ngựa làm cung để kéo đi, kéo lại (cò cử) sau này gọi là nhị 2 dây. Tiếp đó, ông lấy ống nứa tép dùi thành 7 lỗ để thổi tạo tiếng nước chảy, sau này gọi là sáo (biẻm). Từ đấy, hát khắp cọi có nhị (dỉ dèn) và có sáo (biẻm) đệm theo. Từ “khắp” là theo dòng suối chảy, từ “cọi” là theo tiếng gió thổi tác động vào cây tre, cây nứa. Câu chuyện này được phản ánh rất rõ trong bài hỏi đáp về gốc khắp gốc cọi trong phần văn bản khắp cọi được sưu tầm ở Mường Lai.

Hơn nữa, theo ông Hoàng Quang Nhạn, ở các vùng khác không thấy có các văn bản nôm Tày, nhưng ở xã Mường Lai, huyện Lục Yên, bản thân ông vẫn còn lưu giữ được những trang khắp cọi bằng tiếng nôm Tày, ước tính có từ khoảng năm 1922. Chúng tôi  thấy rằng, mặc dù có sự khác biệt như trên nhưng cả ba làn điệu iếu, cọi, khắp cọi có thể có chung một nguồn gốc. Và những căn cứ về nguồn gốc khắp cọi nêu trên phải chăng là những căn cứ để nhiều người khẳng định: Lục Yên là cái nôi nảy sinh làn điệu khắp cọi độc đáo của dân tộc Tày.

                                   

                                                                                                                                                                                                  V.T.M.O

            (Trích Luận văn Thạc sĩ)

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

1.                   Vũ Ngọc Khánh (2011), Văn hóa bản mường Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

2.                   Vi Hồng (1979), Sli lượn dân ca trữ tình Tày- Nùng, NXB Văn hoá dân tộc,Hà Nội.

3.                   Viện dân tộc học (1992), Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.

4.                   Hà Đình Thành chủ biên (2010), Văn hóa dân gian Tày- Nùng ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

5.                   Lục Văn Pảo (sưu tầm và biên soạn), (1994 ), Lượn cọi, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội.

6.                   Lã Văn Lô, Hà Văn Thư (1984),  Văn hoá Tày- Nùng,  NXB Văn hoá, Hà Nội.

7.                   Hoàng Văn Chữ, Nông Phúc Tước, Hoàng Nừng (2012), Iếu dân ca dân tộc Tày, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

8.                   Hoàng Thị Minh Nguyệt (2010), Hát iếu ở Bắc Quang Hà Giang- Những đặc điểm nội dung và nghệ thuật, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Đại học sư phạm Thái Nguyên, Thái Nguyên.

9.                   Phan Đăng Nhật (1977), “Cố gắng phân loại văn học dân gian các dân tộc ít người như nó vốn tồn tại trong cuộc sống”, Tạp chí văn học, (6), tr29- 42.

                                                                                                           

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter