• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Tranh thờ dân gian và tục treo tranh thờ của người Dao Yên Bái
Ngày xuất bản: 26/04/2018 1:50:00 SA

Lý Kim Khoa

Tranh thờ của người Dao có hai loại, một loại là tranh thờ của Pháp sư và một loại là tranh thờ tại các gia đình của người Dao. Tranh thờ của các Pháp sư sử dụng để hành nghề cúng bái, do Pháp sư mời các nghệ nhân cao tay đến nhà để vẽ theo yêu cầu. Bộ tranh này được đánh giá cao về nghệ thuật, thẩm mỹ và có giá trị về tâm linh. Còn bộ tranh thờ tại các gia đình chỉ mang tính ước lệ nên không được giới chuyên môn đánh giá cao về nghệ thuật, thẩm mỹ.

Từ xa xưa, trên bàn thờ của mỗi gia đình nhà cái (Trưởng họ) người Dao đều có những bộ tranh thờ. Tranh thờ của người Dao không mua ở chợ hay ở cửa hàng, không sản xuất hàng loạt mà mỗi bức tranh thờ đều được đặt vẽ ở nhà thầy Mo, thầy Pháp sư vào dịp lễ tết hoặc vào nhà mới.

  Hàng năm vào dịp tết, cùng với công việc chuẩn bị lương thực, thực phẩm, chất đốt phục vụ tết, trong tháng Chạp, người chủ gia đình phải mang lễ đến nhà thầy, nhờ thầy xem giúp tuổi của mình hợp với ngày nào trong tháng để vẽ tranh cho gia đình. Thầy Mo sẽ chọn ngày phù hợp với tuổi của gia chủ. Sau khi cúng lễ, thầy Mo tiến hành thực hiện vẽ tranh cho gia chủ.

Tranh thờ loại này thường khác nhau về nội dung, hình thức và cả về kích thước, tùy thuộc vào điều kiện của gia chủ. Những bức tranh được thầy Mo dùng những ký tự riêng để vẽ. Ví dụ như: Vẽ Vua và các thần gồm: Thần Ngọc Thanh (tồ tác)- ông thần coi giữ bầu trời; Thần Thượng Thanh (lềnh pú)- ông thần coi giữ mặt đất; Thần Thái Thanh (lềnh sị)- ông Thần coi giữ âm phủ. Đây là các thần linh thiêng mà khi thờ cúng các vị Tam Thanh luôn phải treo cao hơn tất cả các bức tranh thờ thần khác.

Theo quan niệm của người Dao, khi những bức tranh thờ đã cũ, hoặc con cháu ra ở riêng và làm nhà mới thì gia đình đều phải nhờ thầy vẽ lại tranh mới. Có như vậy các vị Thần mới phù hộ, che chở cho gia đình có cuộc sống bình an và làm ăn thuận lợi, con cháu không hay ốm đau bệnh tật. Khi các bức tranh được vẽ xong, gia chủ chuẩn bị lễ đến để tạ ơn và trả tiền mua giấy vẽ cho thầy Mo. Lễ gồm một con lợn và một con gà để rửa mặt và mở mắt cho tranh. Tùy thuộc vào kinh tế và tấm lòng của gia chủ mà gà, lợn to hay nhỏ. Sau đó, thầy Mo chọn ngày để mang tranh đến tận gia đình để làm lễ treo tranh mới cho gia chủ. Mâm lễ cúng treo tranh hay còn gọi là lễ khai quang của người Dao gồm: 01 chén nước lã, 01 bát hương, 05 chén rượu trắng và 02 con lợn đã mổ và làm sạch. Thời điểm làm lễ này là một giờ sáng. Thầy mo bắt đầu làm lễ cúng, báo cáo với các Thần linh và Piền hùng, ông bà, ông vải, tổ tiên; Thần rừng, Thần núi, Thần suối… cầu mong phù hộ cho con cháu một năm mới có sức khỏe, có cơm no áo ấm, thóc lúa đầy bồ, lợn gà đầy chuồng. Tất cả các thủ tục từ mổ lợn đến cúng và treo tranh của người Dao đều được diễn ra trong đêm. Khi trời sáng thì bắt buộc mọi thủ tục cúng lễ treo tranh mới đều phải hoàn tất. Đến lúc mặt trời lên, họ hàng, chòm xóm xung quanh mới đến chúc mừng và chúc phúc cho gia đình gia chủ có tranh mới.

 Loại tranh thờ thứ hai là tranh thờ của Pháp sư. Pháp sư là người hành nghề cúng bái, có từ 07 đến 12 đèn và có uy tín. Để hành nghề, Pháp sư phải có bộ tranh thờ được vẽ công phu hơn. Ngày xưa, bộ tranh này thường do nghệ nhân bên phương Bắc thể hiện, từ thập niên 70 (Thế kỷ 20) do các nghệ nhân Hà Đông vẽ. Tranh được vẽ bằng giấy gió hoặc giấy xuyến chỉ khổ 40x110cm, bồi nhiều lớp cho cứng rồi bồi sáp ong lên hai mặt để chống mốc, ẩm và không bị phai màu. Tranh vẽ bằng bột màu chiết xuất từ thảo mộc có trong thiên nhiên (hiện nay vẽ bằng công nghệ in hiện đại với mực in công nghiệp). Mỗi bộ tranh thờ ở mỗi nhóm người Dao có số lượng khác nhau. Chẳng hạn, tranh của Pháp sư người Dao Đỏ ở Lục Yên, Văn Yên, Văn Chấn có từ 18 tờ đến 24 tờ, nhưng của Pháp sư người Dao Quần Chẹt ở Văn Chấn, Trấn Yên chỉ có 18 tờ. Bộ tam thanh của người Dao Đỏ gồm: Thái thanh, Ngọc thanh, Thượng thanh, Triệu nguyên sư, Quan nguyên sư, Lý nguyên sư, Trương nguyên sư, tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ. Bộ tam thanh của người Dao Trắng gồm: Tam nguyên, Công tào, Địa phủ, Lệnh công, Cửu nương, Tả sư, Hữu thanh, Thượng nguyên tướng, Trung nguyên tướng, Âm binh tiến mã, tả Chấn đàn, hữu Chấn đàn, tam nữ phu nhân, các tranh thánh quan, và các thái sư… Tranh thờ của Pháp sư được quản lý theo quy tắc bảo vệ linh thiêng từ khâu vẽ tranh, sử dụng tranh đến hủy tranh thờ

Vẽ tranh thờ: Thầy Mo khi nâng cấp lên được thụ phép thành Pháp sư, thì có quyền sắm một bộ tranh thờ để hành nghề nghi lễ cho mọi người như làm lễ Cấp sắc, tết nhảy, lễ Khai quang, đám hiếu... Bộ tranh này Pháp sư phải mời nghệ nhân cao tay đến để vẽ tranh. Pháp sư phải lập một không gian riêng, biệt lập với nữ giới, chỉ có nam giới mới được ra vào không gian này để phục vụ nghệ nhân vẽ tranh, phụ nữ tuyệt đối không được vào không gian biệt lập này, vì sợ uế tạp đến thân chủ trú ngụ trong bộ tranh.

 Trước khi vẽ tranh, người nghệ nhân vẽ tranh đặt giấy vẽ trước một tấm gương, để tranh vẽ được đến đâu thì thu thần chú của tranh vào gương trú ngụ đến đó. Sau khi vẽ tranh xong, nghệ nhân vẽ tranh lại đem chiếc gương đó đến đặt trước bộ tranh mới, theo quan niệm thì bộ tranh này mới trở thành bộ tranh thiêng, và cũng sau khi vẽ xong toàn bộ bộ tranh, nhà Pháp sư cũng phải làm lễ cúng tạ thân chủ ở trong toàn bộ hệ thống tranh mới đó.

Sử dụng tranh thờ: Sau khi cúng tạ thân chủ xong (tức làm lễ Khai quang mở mắt cho bộ tranh), nhà Pháp sư phải làm lễ cất tranh. Nhà Pháp sư phải thu hồi âm binh, thần tướng (120 âm binh, thần tướng của Pháp sư) trở lại trú ngụ trong bộ tranh, rồi cuốn lại cất vào nơi bảo quản riêng. Thông thường cuộn lại cho vào chiếc bao bằng vải mềm bọc kĩ treo ở cạnh bàn thờ tổ tiên của nhà lớn (nhà cái) và treo thêm con dao phép hình chữ T gồm có vỏ dao và dao (dao này có ý nghĩa là để hãm âm binh thần tướng trú ngụ ở trong bộ tranh đó, không cho ra ngoài quậy phá, hại người khác), ngoài ra còn treo thêm chiếc tù và, và chiếc khèn loa nữa. Trường hợp nhà Pháp sư  không có điều kiện thực hiện đầy đủ các bước theo nghi thức trong lễ cúng tạ thân chủ thì nhà Pháp sư cũng không được mở bộ tranh thờ này ra. Theo quan niệm, làm như thế các thần tướng, âm binh trú ngụ ở trong bộ tranh đó sẽ tràn ra ngoài phá hoại cuộc sống của cộng đồng người Dao.

Hủy tranh thờ: Nếu Pháp sư nào có bộ tranh này chết đi, không truyền lại âm binh, thần tướng trong bộ tranh này cho con cháu kế nghiệp theo nghề thầy cúng. Hoặc nếu Pháp sư bị tuyệt tự (không có người nối dõi) thì họ hàng thân thuộc của Pháp sư sẽ làm lễ đốt cho âm binh, thần tướng đi theo hồn người chết, hoặc họ làm lễ đem tranh đi cất giấu vào đáy hang đá sâu để tranh tự hủy, và họ coi như giam hãm âm binh, thần tướng vào đáy hang sâu nào đó không làm hại ai được và hang đó tự nhiên trở thành hang thiêng, người bình thường nếu biết trong hang có âm binh thì chẳng ai dám vào hang này.

Như vậy tranh thờ mang điển tích về thần linh, vũ trụ quan, nhân sinh quan, có phong cách thể hiện mỹ thuật. Tranh thờ do các nghệ nhân phương Bắc vẽ thường được giới chuyên môn đánh giá cao về nghệ thuật, còn tranh thờ do Pháp sư vẽ chỉ mang tính ước lệ, không được đánh giá cao về tính nghệ thuật và trên thực tế cũng sẽ phải đốt hóa ngay khi sau chủ nhân bộ tranh đó khuất theo phong tục. Tranh thờ của người Dao ít được phổ biến rộng rãi trong đời sống xã hội, không như Đạo phật và Thiên chúa giáo bởi thủ tục đàn lễ, nghi lễ cúng bái quá rườm rà, phức tạp, các dân tộc khác ít quan tâm do chưa được bản địa hóa, còn sơ khai, nguyên thủy. Các bài cúng, sách cúng, bùa chú đều dùng bằng chữ hán, đọc theo âm ngữ Dao, không dịch ra được tiếng Việt, chỉ sử dụng bằng ngôn ngữ riêng và ngôn ngữ này rất khó hiểu, chỉ có Pháp sư hành nghề cúng bái mới biết, mới hiểu được loại ngôn ngữ này.

Các “thần” thể hiện trong tranh thờ của người Dao chủ yếu là Nam thần, các thần trong từng bức tranh thờ, mỗi bức đều mang những tên tuổi (chức danh) chúc vị phức tạp, vừa khó nhớ, vừa cao sang huyền bí, lại vừa xa vời với thực tế đời sống xã hội thực tại. Hiện nay, thế hệ trẻ ít biết chữ Hán lại càng khó hiểu các vị thần linh trong tranh thờ. Khi tiến hành các nghi lễ liên quan đến tranh thờ là phải tốn kém về vật chất, thời gian. Ngôn ngữ sử dụng hành lễ toàn bằng lời (mật chú), thực tế thì đại đa số người ngoài không thể hiểu hết về sự tích của các vị thần trong bộ tranh thờ, bởi suốt trong quá trình hành lễ, họ chỉ dùng tiếng Dao của dân tộc mình, đọc chữ nôm cũng bằng tiếng Dao, thành ra chúng rất khó hiểu, phải cần phiên dịch. Tục treo tranh thờ là một trong những nghi thức quan trọng, mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào Dao. Để lưu giữ và phát huy nét đẹp truyền thống của phong tục này, cần nghiên cứu lý giải thấu đáo về ý nghĩa, tính nhân văn, tính giáo dục của tranh thờ dân gian và dần dần loại bỏ những yếu tố hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tốn kém để hòa nhập cuộc sống thời hiện đại, hội nhập .

                                                                                                    L.K.K

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter