• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Bản Hảu xa xôi
Ngày xuất bản: 24/04/2018 1:51:07 SA

 

Truyện ngắn của Nông Quang Khiêm 

Mới ra trường, về làm phóng viên thử việc tại một cơ quan báo chí văn nghệ của tỉnh, kế hoạch đầu tiên của tôi là phải đi viết cái gì đó thật hay, thật chững chạc và ấn tượng để ghi điểm với Tổng biên tập. Nhưng viết cái gì nhỉ? Quan trọng là chọn vấn đề để viết. Vấn đề phải vừa có tính phát hiện vừa có tính thời sự, sau đó cộng thêm một vài yếu tố khác thì bài viết mới thành công. À! Trong cuộc họp giao ban đầu tuần Tổng biên tập có nói, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy định hướng hai nội dung trọng tâm cần tuyên truyền trong quý là việc thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh và xây dựng nông thôn mới. Phải rồi! Tôi sẽ viết về xây dựng nông thôn mới. Địa chỉ đầu tiên tôi nghĩ đến là Bản Hảu, một xã đặc biệt, hằn sâu trong ký ức tuổi thơ và được tách ra từ chính Bản Lồ của tôi.

Tuổi trẻ là thế, nghĩ được thì làm ngay. Tôi vội vàng báo cáo Tổng biên tập, nhảy lên chiếc xe enzo cũ kỹ phóng đi. Con đường vòng vèo ven hồ lớn, càng đi càng khó. Đi chừng hơn trăm cây số thì gặp đường đất, xe tồng tộc leo dốc, xuống dốc, chồm chồm nhảy qua ổ gà, ổ trâu. Bản Hảu kia rồi. Tôi ngỡ ngàng dừng lại, ngắm từ xa. Bản Hảu thay đổi khác quá, nhanh quá. Nhiều ngôi nhà xây khang trang, tươi mới mọc lên; cây cầu lớn đã bắc ngang sông Biệc; đường nhựa, đường bê tông vươn đến từng ngõ xóm; những ruộng lúa, ruộng ngô, vườn cây ăn quả xanh mướt mát. Lòng tôi khấp khởi vui mừng. Đến Ủy ban nhân dân xã, Bí thư đi xuống thôn, Chủ tịch xã là người Tày, còn rất trẻ, ra bắt tay tôi thật chặt, giọng nói lơ lớ, nụ cười hiền thân thiện, trông anh như một nông dân nhưng khuôn mặt hiện lên vẻ hoạt bát, thông minh. Nhấp chén nước chè, nghe tôi trình bày ý định viết bài về nông thôn mới, Chủ tịch xã gật đầu: “Anh gặp đúng người rồi đấy, chính tớ trực tiếp phụ trách và chỉ đạo mảng này”. “Vâng, thế thì hay quá”. Tôi vội lấy sổ, lấy bút, hỏi dồn dập. Chủ tịch xã đọc vanh vách từng số liệu cứ như thuộc lòng vậy. Hẳn phải là người trách nhiệm và sâu sát lắm mới nhớ nổi từng ấy con số. Từng tiêu chí nông thôn mới đã có số liệu đầy đủ, những thuận lợi, khó khăn, sự chung tay nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bản Hảu trong việc xây dựng nông thôn mới đã được tìm hiểu, phân tích, nhưng sao tôi vẫn thấy thiếu thiếu. Còn vấn đề này nữa, tôi quay sang hỏi Chủ tịch xã: “Nhân tố quan trọng nào giúp xã ta cán đích nông thôn mới hả anh?”. Chủ tịch xã lặng im một lúc rồi chậm rãi nói: “Nhân tố quan trọng à… Đó là câu hỏi hay nhất từ nãy đến giờ đấy. Tớ có thể trả lời được ngay, nhưng thay bằng câu trả lời, tớ dẫn cậu đến gặp một người, có thể cậu sẽ có những trang viết sâu hơn về Bản Hảu”. “Vâng! Thế thì ta đi luôn”. Đằng nào tôi cũng cần một vài nhân vật dẫn chứng cho bài viết thêm sinh động.

Lòng vòng một lúc, Chủ tịch xã dẫn tôi đến trước một ngôi nhà sàn kiểu truyền thống của người Tày, cột rất to được sơn bóng màu nâu trầm, dưới sàn nhà vẫn bày cái cối xay thóc và cái cối giã gạo bằng chân, lúc nhúc gà vịt vây quanh; sau nhà, ngọn núi Biệc lừng lững đang mùa hoa mạ bung nở vàng rực; trước nhà, cánh đồng lúa trải dài tít tắp nối ra ven hồ Thác. Mới nhìn qua cũng có thể đoán chủ nhà là người khá tinh tế và có kinh tế khá giả. Chủ tịch xã quay sang tôi, bảo: “Ông ấy đang thái chuối cho cá kia, cậu cứ hỏi, giờ tớ phải về Ủy ban xã, có gì ta gặp nhau sau”. Tôi nhìn theo tay Chủ tịch xã, trên bờ ao, một người đàn ông chừng sáu mươi tuổi, da nâu bóng, vân váp, thấy có khách, ông đứng dậy, ra đón. Kìa khuôn mặt, dáng người thân quen quá. Người đàn ông lại gần, nhìn chăm chú vào mặt tôi thật lâu rồi ném con dao trên tay vào gầm sàn, nắm lấy tay tôi thật chặt, lại vỗ vào vai tôi bồm bộp: “Thằng Chài, con ông Kha, Bản Lồ phải không?!”. Đấy, ông còn biết cả tên cúng cơm của tôi nữa. Trời ơi, đúng rồi! Tôi reo lên: “Chú Lình!”. Chúng tôi vui mừng nhận ra nhau. Chú Lình dẫn tôi lên nhà, hỏi han, ôn lại đủ thứ chuyện. “Thời gian nhanh quá chú nhỉ? Ngày chú bỏ bản đi, cháu còn đang chăn trâu, đánh khăng, đánh đáo cùng bọn thằng Éng, thằng Át… Nhiều người trong bản khi đó vừa thương vừa trách chú dại dột, tự lao đầu vào chỗ chết… Thật không ngờ có ngày cháu lại được gặp chú như thế này!”. “Ừ!... Thời gian, khát vọng sống, tình yêu, tình người đã làm thay đổi tất cả cậu ạ, cả tôi, cả Bản Hảu xa xôi này!…”. Giọng chú Lình chùng lại, ánh mắt dõi về phía Bản Lồ xa xăm. Còn tôi, bao nhiêu ký ức đang hiện về, rõ mồn một.

Ngày ấy, Bản Lồ chỉ độ ba chục nóc nhà sống ấm êm, đoàn kết. Chuyện bắt đầu từ khi ông Kẹn mắc một căn bệnh lạ. Lúc đầu chỉ là vài vết biến màu lốm đốm trên da, sau khắp các khớp tay, khớp chân và mặt sần sùi từng cục nhỏ rồi dần dần biến dạng trông như quỷ. Ông lo lắng tìm đến hết các thầy lang trong vùng, dùng bao nhiêu loại thuốc vẫn không khỏi. Có hôm trời rét, ông Kẹn ngồi nướng sắn, sưởi lửa, chân ông gác lên gộc củi, lửa bắt theo củi cháy đến chân, ông vẫn không biết gì. Thấy mùi khét lạ vợ ông Kẹn mới kêu lên: “À lối, phạ ơi! Làm sao thế này!”. Khi ấy ông Kẹn mới giật mình rút chân lại. Có hôm ông tước cây tế để làm dế nồi, thân tế cứa vào ngón tay một vệt dài, ông vẫn di tay tước tiếp. Vợ ông Kẹn giật mình: “Ơ kìa!”, ông mới biết tay mình bị đứt. Một thời gian sau, ngón chân, ngón tay ông Kẹn ngắn lại, những vết sần sùi to dần, rụng ra từng cục thịt. Ngày ấy xã chưa có trạm xá. Vợ ông Kẹn mượn xe đạp chở chồng xuống tận bệnh viện huyện kiểm tra. Ông bác sĩ vạch quần áo lên xem rồi quay sang bảo: “Ông nhà bị bệnh phong, hay còn gọi là bệnh hủi, trên thế giới đã tìm được thuốc chữa, còn ở huyện ta hiện vẫn bó tay”. Ông bác sĩ còn phân tích nhiều nữa, ông Kẹn chẳng muốn nghe, ông giục vợ đưa về sớm. Trẻ con Bản Lồ nhìn thấy ông Kẹn, mặt xanh như đít nhái, vắt chân lên cổ chạy bán sống bán chết. Người lớn thấy ông Kẹn đều lảng đi chỗ khác. Tôi nhớ có lần ông Kẹn đi mót sắn về, khát, ông vào nhà tôi xin hớp nước, lúc đứng dậy, từ chân ông rụng ra mấy cục thịt đỏ lòm, anh em tôi nhìn thấy, ôm mặt chạy xuống bếp, những hôm sau không dám chơi ở gian đó nữa. Hôm giỗ bố, ông Kẹn sang nhà anh cả thắp hương như mọi năm. Anh cả đang ngoắng cám lợn, cầm cây đảm đánh mạnh vào chân con chó đang sủa và quát: “Mày bị bệnh, bị tật, mày không giữ cho người nhà thì còn giữ cho ai? Hay mày muốn cả họ, cả bản thành ma thành quỷ như mày!...”. Ông Kẹn quay mặt đi về, nước mắt nuốt vào trong. Từ hôm ấy người Bản Lồ không thấy ông Kẹn ra khỏi nhà nữa. Bệnh ông Kẹn càng ngày càng nặng, mắt mờ dần, chân đi lại chậm chạp. Ông tự mò mẫm lên sau nhà lấy cây bương đóng thành một cái mảng lớn, đuôi mảng ông lợp mái lên như cái lều con và kê vào trong đó một tấm phản để ngủ, một cái kiềng nấu ăn. Vợ hỏi: “Ông đóng mảng gì mà to thế?”. Ông bảo: “Để tôi đi hồ câu, muộn thì nghỉ lại cho tiện”. Một hôm vợ con ông Kẹn đi trồng ngô ở chân núi Ngàng, chiều về không thấy ông Kẹn đâu nữa. Chạy quanh nhà tìm thì thấy mất một cái nồi con, một con dao, một tấm chăn chiên, một ít gạo. Vợ và con gái ông Kẹn đau đớn ôm nhau khóc. Vậy là ông Kẹn đã quyết tâm bỏ đi để không làm khổ vợ con, không để căn bệnh hủi quái ác ấy lây lan sang dân bản. Chừng ấy gạo thì sống được bao nhiêu ngày, mắt ông đã mờ, chân tay chậm chạp thì sống làm sao? Giả xử có tìm được nơi trồng ngô, trồng sắn thì cũng phải hơn ba tháng sau mới có bắp, có củ để ăn. Không thể bỏ ông Kẹn thế được, mấy ngày sau vợ ông Kẹn mượn thuyền nan đạp đi khắp các đảo hồ tìm chồng. Đi vài hôm, ăn hết thức ăn mang theo vẫn chưa thấy, lại về, lấy gạo rồi lại đi. Chừng hơn một tháng, vợ ông Kẹn về, nước mắt lã chã rơi, nói với con gái: “Mẹ tìm thấy bố con rồi!…”. “Ở đâu hở mẹ?”. Vợ ông Kẹn ôm lấy con gái, không nói. Rồi bà nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát: “Ngày mai mẹ sẽ ra ở cùng bố, nghĩa vợ tình chồng như dao chém nước không lìa… Con nghe lời mẹ, tương lai con còn dài, không thể chôn mình ở nơi rừng thẳm ấy được… Con hãy ở lại, chăm lo mồ mả, ruộng vườn, ở lại với thằng Lình, nhé! Con nhé! Mẹ sẽ về thăm con…”.

“Ngày đó?...”- Tôi định hỏi chú Lình nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu. Chú Lình nhấp một ngụm nước chè rồi chậm rãi: “Cậu biết rồi đấy, nhà ông Kẹn và nhà tôi gần nhau. Son là con gái duy nhất của ông Kẹn. Tôi và Son gắn bó với nhau từ nhỏ. Hai nhà đều hoàn cảnh, mùa giáp hạt cơm độn hai phần củ, sáng đi học, chiều hai đứa cùng lùa trâu lên đồi rồi đi lấy chít, mùa măng thì tìm măng, hết mùa măng hai đứa lại cùng đi riu tép ở các bãi rong ven hồ Thác đem bán lấy tiền phụ giúp gia đình và mua sách vở. Quấn quýt nhau, cứ thế lớn lên rồi yêu nhau khi nào cũng không biết nữa, chỉ biết vắng nhau một lúc đã thấy nhớ, xa nhau một ngày là không chịu nổi… Khi tôi và Son định thưa chuyện với hai gia đình thì ông Kẹn bị bệnh nặng… Ngày vợ chồng ông Kẹn bỏ bản đi, Son lủi thủi một mình trông thương lắm! Tôi quyết định đưa Son về ra mắt gia đình, xin cưới để đưa Son về ở hẳn nhà mình. Son mặc cảm nên nem nép bên cạnh tôi. Khi nghe tôi thưa chuyện, bố tôi chỉ nói đúng một câu gọn lỏn: “Không được” rồi ngồi hút thuốc lào tọc tọc, gân cổ nổi nhằng nhịt, khói bay mù nhà. Mẹ tôi thì nhỏ nhẹ: “Bố con vốn tính cộc cằn thế đấy, bỏ qua đi, giờ hai con nghe mẹ bảo. Hai con còn trẻ, hãy nghĩ về tương lai. Thằng Lình sang năm phải đi thi vào trường Sư phạm dưới tỉnh, còn con, Son à, bố mẹ con đang bị bệnh nơi rừng rú, con không ra chăm sóc thì còn ai? Chuyện cưới xin cứ từ từ tính chưa muộn con ạ...”. Tôi biết mẹ tôi ra kế hoãn binh. Son về, cúi đầu bước lui cui, chẳng nói gì, nước mắt mặn đắng đư