• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Nước mắt phù sa
Ngày xuất bản: 24/10/2016 2:05:25 CH

Truyện ngắn của Hải Đường

 

Mưa như trút nước, ròng rã ba ngày, ba đêm. Phía thượng nguồn, sấm vẫn thấy ì ùng, chớp vẫn cứ nhì nhằng. Mưa gió thế này, kiểu gì lũ cũng về. Ở vùng ven sông, nhà nào cũng phải sắm một chiếc thuyền nan, gác ở chái nhà nhằm khi mưa lũ.

Lão gù, sống ở cái bè vó nơi cửa sông lên chợ mua một bó dây thừng, bện ba bốn sợi làm một, chằng buộc cái bè của lão vào gốc cây sung thật cẩn thận. Nhiều người hỏi lão về dự báo mưa lũ, rồi vội vàng về nhà đóng thóc, đóng gạo và đồ đạc vào những cái bao tải, gác lên xà nhà. Những lời lão gù bảo chẳng có sai tí nào. Cả đời lão sống ở cửa sông và chỉ biết một cái nghề kéo vó bè. Lưng lão gù không phải là tật nguyền mà là sống trong cái lều chật chội, thấp lè tè, ra cúi, vào cúi nên lão trở thành gù. Cái lều vó là hai tấm phên đan kẹp ở giữa một lớp lá cọ rồi uốn cong lại y như cái mui thuyền. Đấy là nhà của lão, nồi niêu soong chảo, bát đũa, chăn chiếu, tất tần tật trong cái lều ấy. Duy nhất chỉ có một cái vại con đựng nước là lão để ở bên ngoài. Lão chẳng có hộ tịch, hộ khẩu gì hết mà chỉ là dân ngụ cư nên không ai biết tên họ của lão là gì. Cứ gọi lão là lão gù.

Ngày thứ tư mưa to hơn, kéo dài hơn, bầu trời tối sầm, mọng nước. Mưa chết chim, chết cò, cả một vùng mênh mông trắng xóa. Nước lũ rầm rầm đổ về như thác, cây cối, nhà cửa, rác rưởi trôi cán khan ngoài sông. Những trận lũ thường, mặt sông ít bồi băng, không có mấy giếng nước xoáy, người dân hạ thuyền bơi ra giữa dòng vớt củi. Mỗi nhà một cái thuyền. Mỗi thuyền có hai người bơi, một người ngồi mũi, một người ngồi lái. Thuyền trên sông như lá tre, nối nhau vào ra vớt củi. Một con nước, chịu khó vớt đủ củi đun cả năm. Lần này lũ to quá, nước sông đặc quánh phù sa, bồi băng chốc chốc lại nổi lên giữa sông ầm ào, tạo ra những giếng nước xoáy cực kỳ nguy hiểm. Cả một vùng chẳng có cái thuyền nào dám bơi ra sông vớt củi. Và cũng phải để thuyền mà túc trực chạy lấy người, lấy của khi nước sông lên nhanh như đuổi thế này. Vừa khi chiều, nước mới mấp mé mặt đường, chạng vạng tối nước vào nhà ngập giường, ngập phản. Nửa đêm nước tràn qua đê chảy vào đồng ầm ầm như thác đổ.

Trong đêm tối mịt mù, mưa vẫn như trút nước, người người bì bõm lội lên những đoạn đê cao. Trên đầu thì mưa, dưới sông nước phù sa lạnh như nước đá, họ í ới gọi nhau không thành lời, hai hàm răng lập cập va vào nhau. Lão gù ngoài cửa sông vẫn ra công chằng, buộc cái bè vó của mình. Trời tối đen như mực, không có đèn đóm, thỉnh thoảng nhìn thấy cái này, cái kia là nhờ ánh chớp nhì nhằng từ những đám mây mọng nước trên trời chiếu xuống. Những bè rác lù lù như cái nhà trôi dạt vào bè vó, lão gù lấy sào cố sức đẩy ra, nếu để nó mắc vào thì chẳng có dây chằng, dây buộc nào giữ được.

Giữa sông, chốc chốc lại có tiếng người kêu cứu thảm thiết. Không ai dám ra, không có phương tiện nào mà ra cứu họ giữa đêm tối mịt mùng, mưa gió. Lão gù nghe văng vẳng, hình như có tiếng kêu cứu phát ra từ phía cái bè rác đang đâm sầm vào cái bè vó: cứu một người phúc đẳng hà sa. Lão gù chạy theo bè rác có tiếng kêu cứu, nhưng không kịp. Cái bè rác lao như tên bắn về phía đoạn đê vỡ nước tràn vào đồng. Trời tối đen như mực, trên thân đê chỉ còn một vài ánh lửa lập lòe và tiếng nước réo ở đoạn đê vừa bị vỡ.

Đêm hôm sau, mưa ngớt dần. Nước sông bắt đầu rút xuống. Sáng ra, nhìn cảnh tan hoang của lũ lụt mà sợ. Nhà nào, nhà nấy xem cái gì còn, cái gì mất và bắt tay ngay vào dọn rửa, cào vét phù sa ra khỏi nhà, khỏi sân. Phía bên kia đoạn đê vỡ người ta nhìn thấy pho tượng nằm ghếch đầu lên bờ kênh xây bằng gạch, thân dưới chìm trong nước mương. Lúc sáng sớm chỉ có vài người nhìn thấy, đến trưa thi cả vùng ai cũng biết. Ngài bị lũ cuốn trôi, không biết từ đâu mà dạt vào bờ mương, rồi nằm ở đó.

Mấy người trong làng thì thầm:

- Ngài gặp nạn hồng thủy. Nhưng Ngài thiêng lắm, mưa gió lũ lụt là thế mà Ngài vẫn tồn tại. Khuôn mặt bầu dục, vành tai rộng hai bên dái tai trễ xuống ngang cằm trông rất từ bi, ái mộ.

- Không biết rước Ngài về đâu. Cứ để Ngài nằm ở bờ mương mãi sao đành. Làng mình, không có chùa, có miếu.- Tiếng người than vãn.

Chưa có người quyết. Đến gần trưa trời hửng nắng, da mặt và toàn thân Ngài nứt nẻ như mặt ruộng gặp hạn lâu ngày. Ngài bị bệnh gì, không phải, lớp phù sa bao bọc quanh Ngài gặp nắng nứt ra. Phủi hết lớp đất phù sa một pho tượng phật sơn son, thếp vàng hiện ra rực rỡ.

Gần tối, một anh chàng vốn tinh nghịch cầm đầu bọn choai choai trong làng, mon men đến gần pho tượng.

- Này chúng mày, người ta bảo ruột tượng có vàng đấy. Có đứa nào dám moi ruột tượng với tao không?

Bọn trẻ nhìn nhau vẻ sợ hãi. Có đứa cũng dám làm theo. Chúng hì hục moi, chỉ thấy hết lớp giấy bản này đến lớp giấy bản khác. Moi mãi, moi mãi mà chẳng thấy vàng đâu. Cái anh chàng đầu têu ngáo ngổ là thể mà cũng sinh ra hốt hoảng khi nó nhận ra thân tượng không phải bằng gỗ, cũng không hẳn là giấy bản bồi sơn. Nó lấy ngón tay gõ vào thân tượng thì biết. Chẳng hiểu tượng bằng chất liệu gì, mà kỳ lạ vậy.

Đêm ấy, cậu về nhà không ngủ được. Vợ cậu ta hỏi, cậu cũng không nói. Đến gần sáng đứa con đầu lòng của cậu đau bụng. Đứa bé đau quằn quại vã cả mồ hôi trán, bụng cứ ưỡn lên mà khóc. Không dám đợi cho trời sáng hẳn, cậu nổ xe máy, đèo vợ và con đi ngay trong đêm về bệnh viện huyện cách nhà hơn mười cây số. Đứa bé được đưa ngay vào phòng cấp cứu. Một cuộc hội chẩn diễn ra ngay lập tức. Các bác sỹ chẩn đoán, đứa bé bị lồng ruột và được tiêm ngay thuốc tháo lồng ruột. Các bác sỹ cũng cho bố mẹ đứa trẻ biết, nếu tiêm thuốc không khỏi, bệnh viện sẽ phải xử lý bằng phương pháp phẫu thuật.

Trước mặt bọn choai choai, nghịch ngợm, cậu hung hăng là thế, bây giờ mặt tái nhợt và thú nhận với vợ là chập tối hắn đã rủ rê bọn trẻ, moi ruột tượng tìm vàng. Câu chyện được thêu dệt thêm, khi người này kể cho người kia nghe. Pho tượng vẫn cứ để nằm ở bờ mương. Chuyện đứa bé bị lồng ruột lan ra cả một vùng có chiều hướng thần bí, đượm mầu mê tín. Thấy chiều hướng không hay đang diễn ra, anh dân quân ở xóm dưới lấy hai tay cầm cổ tượng đưa về nhà. Ngay đêm hôm ấy, anh ta bị đau cổ. Sáng ra anh không quay đi, quay lại được, người cứng như khúc gỗ. Ai hỏi ở phía đằng sau hay bên cạnh, anh phải xoay cả người lại để trả lời. Có người trách anh sao lại dại dột đến thế. Muốn chuyển tượng phật đi đâu phải bê phải rước, anh đem tượng phật về nhà bằng cách ấy kiểu gì mà không vẹo cổ. Anh ta giải thích rằng đi làm đồng về mệt mỏi, ngủ quên một phía nên bị vẹo cổ, chẳng qua chỉ là sự trùng hợp. Nói cứng thế nhưng thật bụng anh ta rất run. Tối đến anh lại bê pho tượng một cách thành kính đặt lại vị trí ngoài mương nước.

Ba ngày sau lại không thấy pho tương đâu. Người ta bảo, cái cậu dân quân chả ai phân công, phân nhiệm gì lại đem tượng về vườn nhà mình, để ở đâu ngoài vườn. Chẳng được bao lâu lại thấy bỏ tương ra mương. Có tin đồn rằng, có con cáo cứ hay về quấy rối đàn gà nhà cậu ta. Đem tượng về cho cáo nó sợ, ngờ đâu cậu lại bị ho, khạc cả ra máu tươi. Cậu ta lại hốt hoảng vác trả tượng ra bờ mương. Chuyện thực, hư đến đâu ai mà biết được, thế nhưng nó cứ lan ra cả làng.

Chuyện đến tai lão gù. Lão đến gặp chính quyền, gặp ông Chủ tịch mặt trận xin được rước pho tượng phật về thờ. Lão gù trình bày rằng cái đêm hôm mưa to, gió lớn, trời tối đen như mực, căng mắt ra cũng không nhìn thấy gì. Lão nằm trong cái lều vó bỗng nghe thấy tiếng va rất mạnh vào cái bè và cả tiếng kêu cứu lẫn vào trong mưa. Tiếng kêu cứu, chập chờn như lời phật dạy cứu một người phúc đẳng hà sa. Ngỡ mình nằm mơ, lão bật dậy lao vào mưa chạy theo cái bè nứa hay bè rác có tiếng kêu cứu phát ra. Nhưng không kịp nữa rồi, cái bóng đen mờ mờ ấy lao rất nhanh theo dòng nước xoáy tràn qua đoạn đê vỡ nước réo ầm ầm. Lão xám hối về sự chậm chạp của mình, lão xin được rước ngài về thờ, ngày đêm hương khói.

- Lão xin rước ngài về thì đặt ngài ở chỗ nào, khi lão chỉ có một túp lều.

Tiếng của ai đó hỏi. Lão gù từ tốn:

- Dạ thưa. Tất cả là ở tại tâm ạ.

Cái lều vó nào cũng thấp như nhau cả thôi. Chính vì nó thấp mới chống được gió bão nơi cửa sông và cũng vì nó thấp mà lão trở thành lão gù.

Lão gù cung kính bê rước pho tượng phật về lều. Lão lấy một mảnh ván kê ở phía đầu cái lều thay cho đài sen rồi đặt Ngài lên đó. Cái nóc lều vừa chạm vào đầu phật, tâm phật ngang với cái cửa sổ, nơi đêm hôm thấy động tĩnh gì lão ngó mắt ra quan sát.

Đúng như lời lão hứa, tu nhân tích đức là ở tại tâm. Ngày ngày lão bớt một ít tiền bán tôm, bán cá mua mấy quyển kinh phật, mua hương, hoa về tụng niệm. Tiếng tụng niệm của lão rất nhỏ nhưng đêm khuya thanh vắng, từ cửa sông tiếng tụng niệm của lão vọng vào làng. Có người không ngủ được nữa, nằm đấy lắng nghe, nghĩ về cõi phật, nghĩ đến mấy ngày tượng phật phải nằm vạ vật ở bờ mương và nghĩ đến cuộc đời của lão gù nơi cửa sông.

Cuối tháng bẩy, đã qua mưa ngâu tưởng là mùa lũ trên sông Hồng đã kết thúc, ai ngờ đến giữa tháng tám vẫn còn lũ. Lần này mưa ở hạ lưu không to nhưng dai dẳng, mưa lớn tập trung ở đầu nguồn, lũ lần này không dữ dội như lần trước nhưng không phải không nguy hiểm. Nước sông đặc quánh, múc nước vào bát chẳng khác gì bát bùn đỏ như máu, lạnh buốt như nước đá. Lũ sông cuồn cuộn đầy củi và rác. Củi trôi đều là củi mần để, củi tươi nguyên tróc hết cả vỏ, từng khúc một trơn tuột như có người bẻ cây tươi ra từng đoạn rồi ném xuống sông. Nhiều người trong làng bảo rằng thế là ở thượng nguồn đã xảy ra cuộc chiến ác liệt giữa sơn tinh và thủy tinh. Cuộc chiến không khoan nhượng mới có lắm củi mần để đến thế. Những con suối quanh vùng thường xảy ra lũ ống, cuốn trôi nhà cửa, ruộng vườn đất cát theo nên nước sông mới đặc quánh và buốt giá là thế.

Trong cái lều vó, lão gù thắp hương khấn phật cầu mong người ra tay cứu vớt chúng sinh. Lão biết, chớp bể mưa nguồn dai dẳng mấy ngày liền, kiểu gì thì lũ sông cũng sẽ đổ về dữ dội hơn. Lão gù bảo bà con khẩn trương chống lũ, lão lại chằng buộc cái bè vó vào gốc cây sung một cách thận trọng. Đêm xuống, mưa vẫn rả rích tuôn xuống, chằng buộc xong cái bè vó, chân tay lão tê cóng, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Lão biết chắc là lũ ống đã xảy ra ở thượng nguồn, thảm họa đã xảy ra ở nơi nào đấy rồi.

Những khúc gỗ tươi tróc hết vỏ chốc chốc lại va vào cái bè vó của lão. Mỗi khi củi sông trôi giáp bè vó, lão vẫn vớt lên bè để làm củi, đun nấu cả năm. Nhưng củi mần để thì trơn tuột, chẳng tài nào vớt được. Đành chịu bó tay, lão vào lều nằm. Nửa đêm về sáng có tiếng va mạnh vào cái bè, lão bật ngay dậy, không nón, không áo lão lao ra. Có tiếng người kêu cứu yếu ớt phát ra từ cái bè rác, lão gù lấy cái sào tre có móc sắt ở đầu móc cái bè rác này rồi ghì chặt vào đuôi bè vó. Cái bóng đen lù lù va vào cái bè không phải là cái bè rác mà là một cái mảng nứa bị rác cuốn vào. Lão hốt hoảng nhận ra một người đàn bà bị vùi lấp trong rác với tiếng kêu, đứt quãng.

- Ai đấy, cứu tôi với, cứu tôi....

Lão gù bới rác, hai tay xốc vào nách kéo người đàn bà lên bè vó của mình. Người đàn bà bụng chửa không còn đủ sức để kêu rên. Mưa trút nước lên mặt, lên mái tóc rũ rượi, lên cái bụng chửa, lão gù chỉ nhìn thấy mờ mờ dưới mưa đêm. Một tay luồn xuống dưới cổ, tay kia luồn dưới kheo chân, lão lấy hết sức lực lực bế thốc người đàn bà vào lều vó của mình. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn dầu hỏa, mặt người đàn bà tím tái vì ngâm mình trong nước phù sa buốt như nước đá và mưa. Đêm hôm khuya khoắt, mưa gió nơi cửa sông, không biết kêu ai trợ giúp mình. Lão gù luống cuống, sợ hãi. Lão nhìn vào tượng phật, thẻ nhang vẫn còn cháy, mấy chấm đỏ li ti, lúc ẩn, lúc hiện trước bệ thờ. Lão nhìn vào mắt phật cầu cứu. Tượng phật với tư thế thiền vẫn ngồi im, hai hàng nước mắt phật nhỏ xuống hay là nước mắt của lão, đỏ như nước phù sa. Người đàn bà đang thoi thóp nằm trước phật. Nước mắt lão gù chảy theo nước mắt phật. Lão lục tìm trong đống quần áo nhàu nhĩ của lão treo trên sợi dây ở góc lều. Lão cởi áo, cởi quần sũng nước phù sa rồi mặc cho người đàn bà bộ quần áo nhàu nhĩ của lão. Mặt mày người đàn bà vẫn tím tái, chân tay run bần bật, lão lấy thêm cái chăn chiên Nam Định ủ ấm cho người ấy. Tuần hương trước chưa tàn, lão gù lại châm tiếp ba nén hương. Lão kẹp hương vào giữa hai bàn tay xòe ra mười ngón dâng lên ngang mày vái lấy, vái để, miệng lẩm bẩm. Nam mô, quan thế âm bồ tát... Nam mô, quan thế âm bồ tát... nam mô phật, nam mô pháp, nam mô tăng... nam mô cứu khổ, cứu nạn... quan thế âm bồ tát... Lưỡi lão gù lứu lại, bồ tát- ma ha tát... dường như để kiếm tìm sự cầu cứu, chở che.  Lão nhìn lên mắt phật, hai hàng nước mắt đỏ như nước phù sa vẫn rơi. Lão gù bình tâm trở lại chờ cho người đàn bà ấm lại. Lão lấy cái áo mưa rách tả tơi trùm kín rồi bế thốc lên trạm y tế. Mưa vẫn rả rích rơi, trời tối đen như mực, cứ thế lão đi không đèn, không đóm. Lão đi với sự dẫn đường của lòng nhân từ và lời phật dạy.

Đến trạm y tế người ta dồn mọi tâm lực và trí tuệ ra để cứu vớt người bệnh nhưng muộn mất rồi, người đàn bà đã chết lâm sàng. Tất cả lại ra tay cứu vớt đứa trẻ còn trong bụng mẹ. Người ta phải can thiệp để lấy đứa bé ấy ra. Người mẹ của đứa bé đã chết sinh lý, khi lấy được đứa bé ra khỏi bụng mẹ. Gương mặt nhợt nhạt của chị, đẹp và phúc hậu, đôi mắt nhắm chặt. Thi thể người đàn bà được cuốn trong một tấm vải trắng chỉ còn hở ra khuôn mặt. Lão gù cúi xuống sát khuôn mặt ấy, lặng đi. Hai hàng nước mắt của lão chảy ròng ròng lên khuôn mặt tử thi. Cả đời lão, kể từ khi nhận biết được thế giới xung quanh, cực khổ đến mấy lão cũng không rơi nước mắt vì cơ cực đã vắt kiệt hết rồi. Nhưng bây giờ lão khóc, khóc đến thê thảm trước cái chết của một người đàn bà xa lạ, về thân phận của một con người.

Lão gù khai báo tất cả những diễn biến vừa trải qua, đối với người đàn bà xa lạ. Lão chấp hai tay rồi quỳ xuống trước cái quan tài của một người không có ai thân thích, xin chính quyền, xin mọi người đưa người đàn bà về chôn cất ở mảnh đất mom sông, nơi lão có cái vó bè kiếm sống hàng ngày để lão trông nom phần mộ cho người vô chủ. Cũng lạ, trong tuần cúng cơm cho người quá cố, ngày nào lão cũng xới một bát cơm đầy, một con cá con bằng ba đầu ngón tay khi kho, khi nướng và một bát canh đặt gọn trong lòng cái mẹt con, lão bưng lên ngôi mộ vào lúc nửa đêm- cái lúc mà lão vớt người đàn bà trôi trên sông lên cái bè vó của lão. Người thì cảm động khen lão là người nhân hậu, người thì bảo lão thay đứa trẻ được cứu sống từ trong bụng mẹ cúng cơm cho mẹ nó, thế là phải đạo.

Từ ngày lão được nhận đứa bé đem về nuôi, các bà, các chị gần đấy mới hay bước chân xuống cái bè vó của lão, để giúp lão chăm sóc đứa trẻ. Cái nghề cất vó bè chẳng thể nào giàu có nhưng chịu khó thức đêm, thức hôm lão cũng dư dật đủ tiền nuôi miệng và tiền nuôi đứa trẻ. Được lão hết lòng chăm sóc, thằng bé hay ăn chóng lớn, vừa mới ngày nào mà đã bập bẹ biết nói, biết đi.

Chuyện tượng phật bị mưa lũ cuốn trôi, dạt vào bờ mương nước của làng ngày nào chả còn mấy ai để ý đến. Nhưng xuống bè chơi bời, chăm non thằng bé nhiều người mới vỡ nhẽ ra là lão gù ngày ấy đã rước phật về thờ. Đúng là trời, phật đã phù hộ cho lão có được một đứa con. Những lời bàn tán ấy cứ lan rộng mãi ra, tượng phật trở nên huyền bí được người đời ngưỡng mộ, lời phật dạy chẳng có sai đi đâu một ly, một tấc.

***

Hơn ba năm sau, thằng bé khôn lớn, đã biết theo lão mỗi sáng lên chợ bán cá. Ở hiền gặp lành, tự dưng lão lại có được một đứa con trai, đẹp như thiên thần. Thấy hai bố con lão lên chợ, mọi người xúm lại âu yếm thằng bé và mua bằng hết rổ cá với hàm ý giúp đỡ cha con lão.

Vào một ngày tháng bẩy mưa ngâu, hai cha con lão bán cá xong còn phải trú tạm dưới mái chợ chờ cho mưa ngớt. Mưa ngâu không dứt cứ dùng dằng mãi cho đến quá ngọ. Lão gù đưa nhanh thằng bé trở về cái lều vó. Về đến nơi lão giật mình, tại sao cái cửa lại lệch sang một bên, có ai vào bè của lão khi lão đi bán cá. Chân tay lão rụng rời, đôi mắt thất thần khi lão nhận ra ai đã lấy pho tượng phật đi đâu. Mảnh vải mưa tùng tằng giắt ở góc lều cũng mất. Rất có thể kẻ gian đã lấy mảnh vải ấy trùm vào pho tượng đem đi. Lão nhìn ra cửa sông không thấy ai. Lão phán đoán, rất có thể kẻ gian nào đấy đi thuyền vào lều lấy tượng đưa xuống thuyền bơi đi, không thể có chuyện kẻ gian vác tượng đi bộ vì đi như thế thì kiểu gì cũng bị bại lộ.

Công an điều tra, mấy ngày liền đến lập biên bản, lấy dấu vân tay và yêu cầu lão khai báo tỷ mỉ sự việc. Người ta hỏi lão, xem lão có nghi ngờ ai không. Tội mất không bằng tội ngờ, lão không dám ngờ vực cho ai, nhưng lão nghĩ có ba chiều hướng. Một là, ai đấy cũng có số phận như lão, thấy với tấm lòng thành đưa rước phật về thờ mà trời phật lại ban phúc cho một đứa con, nên tìm cách lấy phật về thờ. Hai là, có thể ai đấy biết câu chuyện của lão mà tìm cách chiếm đoạt lập điện thờ với mục đích nào đấy. Ba là, có thể bọn đạo tặc lấy trộm để buôn bán. Theo hướng thứ ba này, lão khai báo với công an là gần đây có mấy lần hai người đàn ông đi chiếc thuyền nan đến bè vó của lão hỏi mua cá, nhưng không có cá to họ lại bỏ đi. Thấy hai người đàn ông lạ, đôi lần lão gù chột dạ nghĩ, những kẻ lưu manh, lừa đảo có thể chúng nó rình mò chờ lúc sơ hở nó bắt cóc thằng bé con của lão thì sao. Nếu để mất thằng bé thì lão còn sống để làm gì, trời phật bù trì cho cái số phận đen đủi của lão. Thật phúc cho lão chuyện ấy không xảy ra. Chuyện lão chưa khi nào nghĩ tới lại xảy ra, mất pho tượng phật là mất đi nơi nương tựa phần hồn của lão.

Cơ quan chức năng đang lần tìm tung tích của hai gã đàn ông đã có đôi lần đến cái bè vó của lão gù nơi cửa sông. Cuộc truy tìm pho tượng đã kéo dài mấy tháng trời nhưng còn nhiều khó khăn. Hai kẻ lạ mặt có đường dây ở nhiều tỉnh và cả ở vùng biên giới.

Lão gù, còn đang bận tâm đến việc truy tìm pho tượng thì buổi sáng lại có ba người lạ mặt, hai nam, một nữ xin được phép xuống cái bè vó của lão. Nét mặt lão biến sắc, tay chân lão luống cuống, sợ hãi. Lão ôm thằng bé vào lòng như sợ mấy người kia cướp giật mất đứa con của lão.

Ba người lạ mặt, cố làm ra vẻ bình thường để lão gù tĩnh tâm trở lại. Một người hai tay cầm mấy cái chứng minh thư đưa ra trước mặt lão như để trình báo. Hai tay lão ôm ghì lấy thằng bé lùi lại phía sau, sợ họ cướp mất thằng bé.

- Xin ông bình tĩnh. Chúng tôi là người lương thiện, xin được gặp ông và thưa với ông câu chuyện của gia đình chúng tôi. Trước hết chúng tôi đội ơn ông.

Lão gù bình tâm trở lại.

- Có chuyện gì xin các ông, các bà cứ nói.

Ba người khách lạ ở một thị trấn du lịch nổi tiếng, nhiều người đã từng đến. Từ nơi ấy đến đây phải mất mấy ngày tầu xe. Vào một đêm mưa cách đây gần bốn năm, một cơn lũ ống chưa từng thấy từ trên núi đổ về cuốn trôi nhà cửa, đồ đạc, trâu bò, lợn gà của gần một nửa cái thị trấn sầm uất, hơn mười người phần lớn là người già, phụ nữ, trẻ em bị thương, mấy người mất tích, tang tóc bao trùm lên thị trấn.

- Vợ tôi bụng mang dạ chửa, sắp đến kỳ sinh nở, mất tích giữa cái đêm kinh hoàng ấy.

Người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, khuôn mặt cao ráo, sáng sủa, giọng xúc động mở đầu câu chuyện. Lão gù tay vẫn ôm khư khư lấy thằng bé, đưa mắt về phía người đàn ông đang thưa chuyện, lão hỏi lại.

- Vợ của ông, mất tích đêm ấy?

- Vâng, vợ của tôi. Còn đây là chị gái của vợ tôi, đây là ông bác ruột. Mấy năm trời gia đình chúng tôi đau buồn, đinh ninh vợ tôi hoàn toàn mất tích. Nhưng gia đình tôi còn có phúc là đã được ông cứu vớt, đứa con trong bụng mẹ được những người thầy thuốc và ông cứu sống, nuôi dưỡng. Vợ tôi không qua khỏi được, chính tay ông và dân làng chôn cất, hương khói. Gia đình tôi xin được tạ ơn ông, tạ ơn dân làng.

Người đàn ông, vừa nói vừa rơi nước mắt. Đôi mắt lão gù cũng rưng rưng, lão nói với ba người khách lạ:

- Tôi đã cố sức cứu vớt vợ con ông. Trong lúc hoảng loạn tôi nhìn lên cầu cứu phật. Hai hàng nước mắt phật dòng dòng chảy xuống. Lời phật đã thức tỉnh để tôi nghe được tiếng kêu cứu của người đàn bà bị cuốn trong bè rác. Tôi đưa người đàn bà ấy vào trong lều vó của tôi. Vào đến nơi thì người đàn bà ấy không còn kêu rên được nữa. Có đức phật chứng giám.

- Thưa ông, ông thờ phật.

- Vâng, tôi có thờ phật ở góc lều này. Phật cũng bị lũ cuốn trôi dạt vào bờ mương của làng từ trận lũ trước. Tôi xin được rước phật về thờ. Kẻ gian nào mới đánh cắp pho tượng ấy của tôi.

Người đàn ông ở thị trấn có vợ bị lũ cuốn trôi, hai tay đặt một bọc tiền lớn trước mặt lão gù xin hậu tạ. Lão gù, nhất quyết không nhận. Lão vẫn ôm ghì thằng bé con vào lòng. Đôi mắt thằng bé vẻ sợ hãi, lấm lét nhìn những người khách lạ, hai tay nó ôm chặt hơn vào lão. Tiền bạc đối với lão là rất quí. Suốt đêm kẽo kẹt, kéo vó, sáng ra đem cá lên chợ bán cũng chỉ được một khoản tiền nhỏ đủ để nuôi lão và thằng bé. Thằng bé con, không phải lão sinh ra nhưng lão đã cứu vớt nó từ trong bụng mẹ, lão chăm bẵm nó như đứa con chính lão sinh ra. Niềm trông cậy và hy vọng cuối cùng của đời lão, lão gửi gắm vào thằng bé, không có khoản tiền nào đánh đổi được thằng bé mà lão vẫn gọi nó là con, và cả những người ở cái chợ mà lão vẫn bán cá cũng bảo thằng bé là con của lão, ai cũng mừng cho lão. Trời, phật đã cho lão đứa con.

Những người khách lạ cũng xin được đưa hài cốt của người gặp nạn về nơi chôn rau, cắt rốn ở vùng núi biên cương.

Mấy ngày hôm sau, những người lạ mặt ở cái thị trấn nào đấy rời khỏi cái bè vó. Từ hôm ấy, lão gù lại lủi thủi một mình. Đêm đến lão không ngủ, ngọn đèn dầu hỏa đặt ở góc lều chong chong suốt sáng. Cái vó khô khốc treo lơ lửng vào bốn cái càng bằng những cây tre đực, thỉnh thoảng lại đung đưa, kéo theo cái giỏ nửa khô nửa ướt nơi cửa sông. Đã mấy đêm liền, chẳng ai nghe thấy tiếng kẽo kẹt như mọi đêm.

Sớm tinh mơ, trời còn tối, người trong làng đã nhìn thấy cái bóng đen gù gù của lão. Lão quỳ hai đầu gối xuống vạt cỏ non trước mấm mồ, bên dưới không còn hài cốt. Gió từ cửa sông thổi vào. Ba cái chấm đỏ tàn nhang trước mặt lão lập lòe, lúc sáng, lúc tối.

 

H.Đ

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter