• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Tiểu đoàn 21 Xe Tăng với Mùa Xuân Đại Thắng
Ngày xuất bản: 14/04/2017 8:07:20 SA

Hồi ký của Ngọc Chấn 

 Sau chiến thắng Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975. Tiểu đoàn 21 Tăng Thiết Giáp của chúng tôi tiếp tục nhận lệnh tham gia giải phóng các vùng đất còn lại trên đường 20.

Ngày 17 tháng 3 năm 1975, Đại đội 2 Tiểu đoàn 21 phối hợp với sư đoàn bộ binh 7 tiến công địch ở Định Quán, giải phóng Định Quán.

Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 21 cùng bộ binh và các binh chủng hợp thành tiến công giải phóng La Ngà.Thời cơ thuận lợi, xe tăng cùng Sư đoàn 7 đã nhanh chóng khẩn trương đánh địch trên đường 20 và thị xã Lâm Đồng.

Ngày 27 tháng 3 và ngày 28 tháng 3 năm 1975, xe tăng lại tiếp tục đánh địch hành tiến trên đường 20 từ Ma Đa Gui đến Di Linh giải phóng Lâm Đồng . Đại đội 1 tăng nhận lệnh của Tiểu đoàn trưởng Trần Cao Khuê xuất phát từ Phương Lâm đến Ma Đa Gui. Trước sức mạnh của xe tăngm địch hoang mang, tan rã ta đã chiếm được Ma Đa Gui. Đến 18h tối xe tăng Đại Đội 1 vượt đèo Chuối cùng bộ binh đánh chiếm khu Đa Oai. Ta bất ngờ gặp hỏa lực cối 61 ly bắn chặn đầu cầu không cho bộ binh tiến vào chi khu. Ngay lúc đó đại đội tăng 2 đã tập trung bắn diệt các mục tiêu, dùng súng máy trên xe chi viện cho bộ binh đánh chiếm hai đầu cầu. Sau 1 giờ chiến đấu ta đã làm chủ chi khu Đa Oai.

Ngay trong đêm 27 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn tăng 21 đã triển khai lực lượng tiến công vào thị xã Lâm Đồng. Phân đội đi đầu gồm Đại đội 2, Đại đội công binh, trinh sát các phân đội, pháo binh, pháo phòng không. Khoảng 23 giờ 30 phút quân ta đến đèo Bảo Lộc thì gặp đại đội bảo an (người Thượng) bắn chặn quyết liệt. Xe tăng và bộ binh phải đánh chiếm từng đoạn đường để tiến lên. Trước sức mạnh của quân ta, địch đã đặt vật cản phá đường rồi rút chạy vào rừng. Đến 4 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 3 năm 1975 phân đội đi đầu đã tiến đến đầu cầu Đại Bảo thì bị địch trong thị xã dồn dập bắn pháo vào đội hình. 6 giờ sáng ngày 28 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn trưởng Trần Cao Khuê đến sở chỉ huy Trung đoàn bộ binh 209 để hiệp đồng chiến đấu, cũng thời gian đó pháo 13 ly của ta ở hướng Tây tập trung hỏa lực bắn dữ dội vào thị xã buộc địch phải ngừng chống đỡ. Chớp thời cơ, xe tăng và bộ binh phối hợp đánh địch án ngữ cầu Bảo Đại mở đường cho Trung đoàn bộ binh 14 tiến đánh tiểu khu Lâm Đồng. Đến 9 giờ sáng ngày 28 tháng 3 năm 1975, Đại đội tăng 1 chia ra làm 2 mũi tiến công địch ở vòng ngoài, chiếm trại lính, sau đó chiếm dinh tỉnh trưởng. Còn 1 mũi ở Tây Nam đánh chiếm chi khu Bảo Lộc, sau đó đánh sang khu hành chính. Đến 11 giờ xe tăng và bộ binh đã làm chủ thị xã.

Chỉ trong hai ngày, Tiểu đoàn tăng 21 cùng Sư đoàn 7 đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ địch phòng ngự dọc tuyến đường 20, dài hơn 100km, tạo nên vùng giải phóng rộng lớn của Miền Đông Nam Bộ.

Sau khi giải phóng Lâm Đồng đơn vị xe tăng D21 của chúng tôi nhận lệnh rút về Phương Lâm, La Ngà để củng cố lực lượng, bảo dưỡng, sửa chữa xe pháo, tập huấn rút kinh nghiệm, chuẩn bị phương án tác chiến cho trận đánh lớn tiến về giải phóng Sài Gòn.

Đầu tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 21 xe tăng nhận lệnh phối hợp với quân binh chủng hợp thành, hành quân về Túc Trưng chuẩn bị cho trận đánh ác liệt nhất tại phòng tuyến Xuân Lộc. Thị xã Xuân Lộc cách Sài Gòn 80km về phía Đông Bắc, nằm trên trục đường giao thông quan trọng là quốc lộ 1, đường 20 và đường 15 những tuyến cơ động chủ yếu vào Sài Gòn. Chính diện tuyến phòng ngự Xuân Lộc khoảng 40km kéo dài từ Túc Trưng qua Dầu Giây, thị xã Long Khánh đến ngã 3 Tân Phong. Khu vực này có nhiều núi cao, rừng già che phủ, địa thế rất hiểm yếu cho hoạt động quân sự.

Ngày 28 tháng 3 năm 1975, tướng Mỹ Weyand- tham mưu trưởng Lục quân cùng tướng Ngụy Cao Văn Viên- Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa đi thị sát đã chọn Xuân Lộc làm phòng tuyến cố thủ: “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tập trung toàn bộ binh lực cho Xuân lộc bao gồm: Sư đoàn bộ binh 18, 100 xe tăng thiết giáp, 42 khẩu pháo, 1 liên đoàn biệt động quân, 9 tiểu đoàn bảo an.

Ngày 02 tháng 4 năm 1975, Bộ tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công giải phóng Thị xã Xuân Lộc, 2 Tiểu đoàn xe tăng đoàn M 26 của chúng tôi phối hợp với Sư đoàn 7, Sư đoàn 6, Sư đoàn 341, Lữ đoàn pháo binh 24, Pháo phòng không 71, Lữ công binh 25 và nhiều đơn vị khác tham gia chiến dịch.

5 giờ 40 phút ngày 09 tháng 4 năm 1975, pháo binh của ta đồng loạt pháo kích dữ dội vào các mục tiêu của địch suốt 1 tiếng đồng hồ vào thị xã Xuân Lộc. Lúc này Đại đội tăng 1, Tiểu đoàn tăng 21 gồm 8 xe T54 và T59 chia làm 2 mũi được lệnh xuất kích từ chân núi Chứa Chan xuyên qua rừng chuối, rừng đu đủ hợp đồng tác chiến với E165 Sư đoàn 7 theo hướng chính phía Đông và phía Nam tấn công. Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo. Xe đi đầu do chính trị viên Nguyễn Xuân Liêm chỉ huy, Cao Xuân Hòa lái xe, pháo 1 Nguyễn Quốc Vĩnh, pháo 2 Đặng Quang Lan. Tiếp đó là xe của Trung đội trưởng Đỗ Văn Viên. Trung đội phó Quang Thái. Cách khoảng 300m qua kính TeXa trên xe, chúng tôi phát hiện phía trên bờ ủi bên trong hàng rào dây thép gai xe tăng M113, M41 của địch bò lổm ngổm dẫn đường cho bộ binh phản kích lại lực lượng của ta. Lúc này chính trị viên Nguyễn Xuân Liêm và Đại đội trưởng Đồng Minh Hòa lệnh cho tất cả các xe sử dụng hết cơ số đạn bắn hủy diệt các mục tiêu. Đạn DK2, đạn M72 của địch từ Thị xã bắn ra tới tấp, xanh lét cả khoảng trống phía trước. Pháo thủ 2 của các xe kịp thời nạp đạn để pháo thủ 1diệt mục tiêu. Bốn xe M113, hai xe M41 bị bắn cháy, lửa bốc lên ngùn ngụt bên bờ tường ủi. Khoảng 12 giờ trưa, Sư đoàn 7 bộ binh đã chiếm lĩnh được một số vị trí quan trọng, toàn bộ khu hành chính, quân ta đã làm chủ được một nửa thị xã, đưa được 3 tiểu đoàn vào áp sát các mục tiêu. Đúng lúc đó, xe tăng đi đầu bị chết máy pháo thủ Nguyễn Quốc Vĩnh nhanh chóng nhảy ra ngoài xe móc cáp cho lái xe Trần Mạnh Hùng kéo ra ngoài để sửa chữa chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo.

Trong trận mở đầu Xuân Lộc, Đại đội tăng 1, Đại đội tăng 2 của Tiểu đoàn 21 tiến công ở 2 mũi Bắc và Nam đường sắt. Có thể nói trận đánh diễn ra hết sức khó khăn và ác liệt. Địch quyết tử để giữ bằng được “cánh cửa thép phía Đông”. Mặt khác, do ta chưa nắm vững địch, nhất là các vị trí ở Xuân Lộc nên xe tăng của ta ở phía Nam bị trúng mìn 3 chiếc, trúng đạn chống tăng 1 chiếc. Còn 4 xe vẫn trụ lại cùng bộ binh chiến đấu.

Sáng ngày 10 tháng 4 năm 1975, xe tăng của 3 đại đội (1- 2- 3) Tiểu đoàn 21 lại cùng bộ binh đánh vào thị xã Xuân Lộc. Lực lượng ta bị hỏa lực phi pháo của địch ngăn chặn, máy bay của địch từ sân bay Biên Hòa- Tân Sơn Nhất tới quần đảo dữ dội, khói bụi lửa cháy mù mịt, chúng dùng cả bom phát quang để sát thương bộ binh và xe tăng. Ta mấy lần đột phá không thành, tổn thất tới 30 % số xe tăng tham chiến.

Sau ngày giả phóng, được cử đi các lớp tập huấn về công tác tuyên truyền, trực tiếp nghe bài giảng của các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp và nghiên cứu tài liệu tôi càng hiểu thêm về ý đồ và sự ngoan cố của địch quyết: “Tự thủ” ở Xuân Lộc. Cụ thể ngày 12/4, Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn quyết định tăng cường lực lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh cho Xuân Lộc. Đổ Lữ đoàn dù 1 xuống chốt ngã 3 Tân Phong. Bố trí lại thế trận phòng thủ ở thị xã. Đưa Lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến, chiến đoàn 318 biệt động quân chốt giữ Trảng Bom, Chiến đoàn 322 chốt giữ Bàu Cá và điểm cao 122. Lệnh cho sân bay Biên Hòa- Tân Sơn Nhất tập trung 80 lần oanh kích mỗi ngày, trực tiếp chi viện cho các mũi phản kích.

Lực lượng địch ở Xuân Lộc chỉ trong mấy ngày đã gia tăng đột biết chiếm 50% bộ binh, 6% pháo binh, hầu hết số lượng tăng thiết giáp của quân đoàn 3 quân khu 3 và lực lượng tổng sư bị chiến lược của quân đội Sài Gòn.

Với tình hình trên, tương quan lực lượng giữa ta và địch ở Xuân Lộc đã thay đổi lớn. Phương án tiến cộng chính diện đã không mang lại kết quả như mong muốn.

Ngày 13 tháng 4, đơn vị xe tăng chúng tôi nhận được lệnh ngừng tiến công. Mỗi đơn vị bộ binh chỉ để lại một lực lượng nhỏ để nghi binh địch giữ chân trong lòng thị xã. Thấy bộ đội ta rút, địch rất hồ hởi ấp ủ hy vọng rằng lực lượng của ta đã suy yếu, khó thắng nổi quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Không ngờ chỉ 2 ngày sau đó, rạng sáng ngày 15 tháng 4, pháo binh của ta đã bắn cấp tập dội lửa vào sân bay Biên Hòa. Sư đoàn 6 cùng với các đơn vị xe tăng phối thuộc với Trung đoàn 95B đã tiến công diệt chiến đoàn 52, 1 tiểu đoàn pháo, 1 chi đoàn thiết giáp, chiếm giữ chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây cắt đứt quốc lộ 1 từ Xuân Lộc đến Bàu Cá và đường 20 từ Túc Trưng đến ngã 3 Dầu Giây, tạo thế bao vây cô lập hoàn toàn thị xã Long Khánh.

Trước tình hình nguy cấp đó, Bộ chỉ huy quân đội Sài gòn đã đưa lữ đoàn 3 thiết giáp, Trung đoàn 8, Sư đoàn 5, huy động hơn 100 khẩu pháo cỡ lớn ở Căn cứ Nước Trong, hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và 125 chiếc máy bay chiến đấu chi viện mỗi ngày. Mở cuộc phản kích quy mô lớn hòng chiếm lại Dầu Giây.

Dầu Giây bỗng trở thành điểm quyết chiến khốc liệt nhất giữa ta và địch tại Xuân Lộc, tổn thất của cả 2 bên tiếp tục tăng lên. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 21 xe tăng tiếp tục phối hợp với Sư 7, Sư 341 nã pháo thẳng vào chiến đoàn 43, 48 của Ngụy quân tiêu hao nặng Lữ đoàn 1 của địch. Phối hợp với đòn tiến công của quân chủ lực bộ đội địa phương và quân du kích nhanh chóng tiêu diệt bức hàng, bức rút hệ thống đồn bốt địch ở dọc các trục giao thông bao quanh thị xã.

Khi chiến sự ở Xuân Lộc còn đang diễn ra ở thế giằng co thì cánh quân Duyên Hải nòng cốt là Binh đoàn Hương Giang sau khi đập tan lá chắn Phan Rang, giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân đã tiến vào khu vực Rừng Lá. Sức mạnh của binh đoàn chiến lược thọc sâu cùng với các mũi đột kích dữ dội của xe tăng đoàn 26 đã tạo ra sức ép đối với toàn bộ quân địch trước cửa ngõ Sài Gòn.

Nhận thấy không còn đủ lực để chiếm lại Dầu Giây. Bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn xuống lệnh: “Rút khỏi Xuân Lộc”.

22 giờ đêm ngày 20 tháng 4 năm 1975, lợi dụng lúc trời mưa to, theo tỉnh lộ 2 toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc đã tháo chạy về phía Bà Rịa- Vũng Tàu.

Đêm 21 tháng 4 năm 1975, ngồi bên tháp pháo xe tăng, mở đài Sài Gòn chúng tôi nghe Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc lời từ chức. Thiệu rên rỉ trên đài, than vãn oán trách người Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa.

Rút chạy, nhưng chính quyền Sài Gòn không từ một hành động độc ác nào để ngăn chặn bước tiến công của ta. Ngày 21 tháng 4 năm 1975, C130 không lực Ngụy đã thả 1 quả bom nhiệt áp CBU55 loại vũ khí phi hạt nhân tàn bạo nhất xuống khu vực chỉ huy Sư 341 của quân đội giải phóng, đốt ô xy trong vùng rộng 2 mẫu gây thương vong khá lớn cho quân đội ta.

Sau 13 ngày đêm chiến đấu ác liệt, Tiểu đoàn 21 tăng thiết giáp miền Đông Nam bộ đã cùng bộ binh và các binh chủng hợp thành giải phóng hoàn toàn thị xã Xuân Lộc, bắt sống Tỉnh trưởng Long Khánh Phạm Văn Phúc, mở đường cho đại quân tiến vào Sài Gòn. Chiến thắng Xuân Lộc- một thắng lợi có ý nghĩa quyết định mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.  Góp phần vào chiến thắng lẫy lừng đó có Tiểu đoàn 21 xe tăng- đơn vị được phong danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang” sau ngày giải phóng.

 

N.C

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter