• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Lính Cụ Hồ
Ngày xuất bản: 29/05/2019 1:23:14 CH

 Ký của Hoàng Kim Yến 

Ông ngồi đó, ánh mắt trôi về phía xa xăm khi tôi gợi về những tháng ngày ông lên đảo giải phóng Trường Sa. Rồi ông cười ngất. Cứ thế tôi bị ký ức của ông cuốn trở về những ngày khói lửa, nơi diễn ra cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Sau 55 ngày đêm không ngủ để hành quân thần tốc vào Sài Gòn, cuối cùng đơn vị của Trung đội trưởng Triệu Tiến Châu- quê xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái cũng vào được đến Phan Thiết theo giao ước của cánh lính Trường Sơn “Hẹn nhau ở Sài Gòn”. Những tưởng ông sẽ được hiến sức mình cùng ngàn vạn anh em tham gia giải phóng miền Nam thì đơn vị ông được lệnh của cấp trên quay trở lại Nha Trang ra đảo Trường Sa. Lính bộ binh tham gia giải phóng Trường Sa là một việc mới mẻ. Dù ông vốn là một trung đội trưởng dày dạn kinh nghiệm, nổi tiếng với biệt danh xạ thủ B41. Kinh nghiệm chiến đấu của ông, cách lựa chọn chiến thuật của ông mạo hiểm đến không tưởng nhưng lại giành thắng lợi với tổn thất ít nhất. Cách đánh ấy khiến cánh lính thích tham gia chiến đấu cùng ông. Còn thủ trưởng cấp trên lại dành cho ông sự tin tưởng gần như tuyệt đối. Có lẽ vì thế ra Trường Sa lần này cấp trên giao cho ông đi đầu cùng Đại đội trưởng, là người điểm hỏa đầu tiên. Nhận nhiệm vụ, ông lên tàu cùng với 3, 4 chục anh em lính bộ binh khác. Chiếc tàu nhỏ chừng 2 gian nhà, ngụy trang giống như tàu chở hàng ra biển. Ông cùng đồng đội phải ém mình dưới boong. Sóng biển dữ dội, gió biển vần vũ, tiếng ào ào dội vào mạn tàu rền rĩ ngày đêm. Trong sóng gió của biển cả, chiếc tàu mỏng manh như cái lá, hết cắm đầu chúi xuống, lại bổ chửng ngửa lên, lúc quật nghiêng phải như chuẩn bị úp sấp, phắt cái lại quất nghiêng bên trái như thể trở mình. Ruột gan cánh lính lộn tùng phèo, nôn cả ra mật xanh mật vàng. Đầu óc quay cuồng, cứ mở mắt ra cảm giác chao đảo càng làm cho đầu óc ong lên, ruột gan lại như muốn ói cả ra ngoài. Thành thử chẳng ai muốn ăn. Một ngày, hai ngày, ba ngày như thế trên biển ông mới hiểu sự cơ cực của những người lính hải quân. Những gian khổ khi sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, có những lúc chắc mẩm mình sẽ chết trận này không là gì với những lênh đênh vô định trên biển cả. Ở rừng pháo nã, bom rơi nhưng vẫn ở trên đất liền, vẫn có chỗ để tránh, vẫn có nơi để náu. Còn trên tàu, giữa mênh mông biển cả, chỉ một quả pháo thôi là xác định nằm lại với rì rào sóng vỗ. Khi con tàu đã gần đến đảo, khi ông và đồng đội đã nhìn thấy lờ mờ hòn đảo Trường Sa của Tổ quốc giữa mênh mông sóng nước, khi được lệnh của Đại đội trưởng rằng chuẩn bị vũ khí lên đảo thì không một ai có thể đứng lên được. Ông Châu ngừng kể, cười thành tiếng: “Trời ơi, lúc ấy người nó cứ nhũn ra, không mở nổi mắt. Đấy là khi ấy tôi là dạng khỏe. Sóng biển ghê thật. Ngang tra tấn.”. “Không đứng lên được thì chiến đấu làm sao?”- Tôi hỏi. Ông vui vẻ “Thì lại quay về đất liền”. Lại 3 ngày lênh đênh trên biển, các ông mới cập đất liền để nghỉ ngơi lấy sức. Cánh lính hải quân nhìn cánh lính bộ binh say sóng cười thông cảm “Sẽ quen thôi”. Họ còn truyền kinh nghiệm ăn uống để chống say. Ở đất liền, các ông được nghỉ ngơi 3 ngày, chỉ ăn cơm bữa trưa, bữa sáng và tối ăn lương khô với uống sữa. Sức trai trẻ cùng mong muốn giải phóng Trường Sa càng nhanh càng tốt, khiến ông cùng đồng đội nhanh chóng hồi lại sức khỏe. Lần thứ 2 các ông lại lên tàu ra biển. Do tâm lý đã được chuẩn bị, do phần nào cũng đã quen dần với sóng gió biển khơi, cộng với kinh nghiệm chỉ ăn khô, không ăn ướt của cánh lính hải quân nên sau 3 ngày lênh đênh, tờ mờ sáng các ông cập đảo trong bí mật. Nhanh chóng, các ông đào hầm cá nhân để náu mình, đợi lệnh của Đại đội trưởng. Giờ điểm hỏa đã đến, Đại đội trưởng nằm trong chiếc hầm ngay bên cạnh ông phát lệnh. Ông giữ chắc khẩu B41, nhằm thẳng lô cốt phía trước mặt, bắn. Nhất định phải bắn trúng vì nếu bắn trượt, đại liên từ lô cốt sẽ bắn ra, bộ binh của ta sau điểm hỏa xung phong lên sẽ là tổn thất. Với kinh nghiệm dày dạn, ông xóa sổ lô cốt đầu tiên. Liền sau đó, tiếng B41 ở các mũi khác cũng đồng loạt nổ. Tiếng 12 ly 7, ĐKZ, Đại liên từ phía tàu ngoài biển yểm trợ phía sau. Tiếng xung phong của bộ binh dậy lên đầy phấn khích. Theo Đại đội trưởng, ông di chuyển sang trái, tiêu diệt tiếp lô cốt thứ 2 gọn như không. Thế là ông đã mở đường an toàn cho bộ binh xông lên phía trước. Tiếp tục theo Đại đội trưởng tiến sâu vào mỏm chốt. Quả B41 thứ 3 ông được lệnh bắn vào hầm chỉ huy của địch. Toàn thắng. Đêm đó ông may mắn được ngủ lại Trường Sa giữ đảo chờ giao cho quân quản. Ở đây gió hào phóng hơn ông tưởng. Nó cứ hồn nhiên như những đứa trẻ ào vào đầy vồ vập, mang theo cả tiếng sóng vỗ ầm ập vào ghềnh đá. Suốt đêm ngày, biển không ngừng hát khúc ca của riêng mình. Khúc hát chứa đựng cả sức gió, sức nước biển khơi, nghe âm âm đầy nội lực. Hoàn thành nhiệm vụ, ông cùng đồng đội lại lên thuyền về đất liền. Trường Sa của Tổ quốc đã được giải phóng, cũng có những đồng đội hi sinh ngay trên đảo, cũng có những đồng chí bị thương rồi không chờ được đến ngày ra đất liền chữa trị. Cập bến, các ông được nhân dân đón chào trong hân hoan. Đơn vị tổ chức ăn mừng chiến thắng. Dân đến chung vui góp thêm thịt, cá và nhiều thực phẩm khác. Bữa cơm ăn mừng thắm tình dân quân Nam- Bắc.

Ông Châu ngừng kể, nhấp chén nước chè như để kìm đi nỗi xúc động đang trào lên theo suy tưởng. Hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Trường Sa, ông trở về với nhiệm vụ của một anh lính bộ binh, tiếp tục hành quân vào làng lùng bắt tướng tá ngụy, bảo vệ đường 19 cho đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Duẩn vào Nam cùng nhân dân ăn mừng chiến thắng.

Khi Phun Rô nổi dậy ở Tây Nguyên, ông lại cùng đồng đội hành quân lên Tây Nguyên, Gia Lai, Đắc Lắc lùng bắt Phun Rô. Phun Rô chạy, ông cùng vô số quân tình nguyện Việt Nam sang nước bạn Cam Phu Chia lùng bắt quân Khơ me. Tại đây ông được phong hàm Đại đội trưởng.

Năm 1978, Cục Cán bộ điều ông ra Bắc. Chiến tranh Biên giới phía Bắc đang cần người giàu kinh nghiệm như ông. Trên đường ra Bắc ông được nghỉ phép về thăm nhà. Trở về quê với bao hồi ức. Đã 6 năm xa quê vào Nam chiến đấu, trải qua 25 trận đấu. Chủ yếu diễn ra trên đường 19, đường 21 nhằm cắt đường chi viện của địch từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Có những trận ác liệt đến nhớ đời. Một ngày có đến 90 lần bộ binh, xe tăng lên phá chốt. Có khi máy bay thả bom lên đến 10 lần một ngày. Dù hi sinh rất nhiều nhưng nhất định không để thông đường chi viện của địch. Ngồi bên bố mẹ, ông kể trận đánh giữ chốt mà cho đến tận bây giờ khi nhắc lại ông vẫn thấy đau thắt nơi ngực. Đó là trận giữ chốt A Run, đường 19, khu 3 Gia Lai. 16 chiếc xe tăng, bom và pháo quần liên tục suốt ngày. Ông cùng đồng đội đã chiến đấu anh dũng đến viên đạn cuối cùng. 19 người hi sinh. Chỉ còn lại ông bị thương vào đầu và chính trị viên phó Đại đội. Không thể cự lại được với lực lượng đông như thế, ông cùng chính trị viên phó Đại đội phải rút về đường sau đồi chờ vận tải lên lấy anh em hi sinh. Nhưng địch đã cho xe tăng quần nát hòng xóa sổ hoàn toàn chốt của ta. Từng đó đồng đội hi sinh bị trôn vùi không lấy được xác theo. Ông ngồi lặng bên bố mẹ thốt lên trong đau đớn: “Thật là tàn khốc!”.

Lên Lào Cai, là Đại đội trưởng ông vừa đảm nhiệm việc huấn luyện quân vừa cùng quân đào hầm hào dọc sông Nậm Thi lên bản Phiệt. Quan sát trận địa ông nhận thấy, ta và địch cách nhau chừng 500 mét, trận địa của địch cao hơn ta. Ở trên cao địch có thể quan sát mọi hoạt động của ta dễ dàng hơn. Vì thế trận địa của ta phải kín đáo. Nghĩ vậy, ông cho quân đào hào đến đâu, ngụy trang ngay đến đó. Những gốc tre, nứa, chè và dứa được bứng cả rễ, trồng luôn dọc phía ngoài giao thông hào. Chúng sẽ sống như muôn vàn cây cỏ trên quả đồi xung quanh chốt. Kinh nghiệm chiến trường cho ông biết cối 82 và 60 bắn cầu vồng, ông đặt chúng đằng sau đồi để địch không thể nhìn thấy. ĐKZ, 12 ly 7 bắn thẳng ông đặt phía trước, dưới hầm, mặc dù ông biết dưới hầm bắn hai loại này sẽ inh đầu khó bắn nhưng để đảm bảo bí mật, lính phải chịu khó vất vả. Phía sau đồi ông cùng quân đào hầm địa đạo. Hầm địa đạo sâu so với đỉnh 15 đến 20 mét để pháo địch khoan không tới. Có những đoạn hào ông cố tình để hở không ngụy trang cho địch tưởng đó là hào thật của ta. Nhưng thực chất ông đã đào một đoạn hào khác vòng phía sau để quân di chuyển khi chiến đấu. Chính vì kiên cố và sáng tạo mà sau 4 ngày dòng dã pháo bắn sang, bộ binh tràn tới mà chốt của ông vẫn yên ổn. Cho đến sáng ngày 22/2/1979, đi kiểm tra chốt, ông bàng hoàng phát hiện tất cả các chốt xung quanh của ta địch đã chiếm hết. Quanh chốt toàn là cờ địch và tiếng i a i ô của quân địch. Thì ra tất cả các chốt đã rút từ đêm hôm trước. Do đường dây thông tin bị pháo bắn đứt. Máy PRC25 bị địch phá nhiễu nên chốt của ông không nhận được lệnh rút quân bảo toàn lực lượng. Trinh sát lên chốt thám thính thấy toàn quân địch và pháo cầy xới mấy ngày đêm vẫn không thấy người của đại đội trở về. Cấp trên nghĩ đại đội 3 đã bị xóa sổ. Thấy tình hình của đại đội đang lâm vào tình huống nguy cấp, ông gọi các tiểu đội trưởng lên thông báo thẳng thắn tình hình rồi yêu cầu tất cả tập trung khuân bằng hết số súng đạn còn lại trong hầm địa đạo lên hào chiến đấu trận quyết tử để mở đường. Cách hào khoảng 20m, ông cho quân gài mìn đón lõng. Bày trận địa xong, ông cùng toàn bộ đại đội ém mình chờ địch tới. Với kinh nghiệm dày dạn nơi chiến trường ông bình tĩnh kệ cho địch thỏa sức tiến quân lên. Sau tiến kèn hiệu kệnh địch tràn lên đông như kiến. Chúng bắn ràn rạt, miệng hô to. Lên đến tận đầu hào của ta vẫn không có tiếng súng đánh trả, chúng tưởng quân ta còn ít, đang hoang mang nằm chờ chết trong hầm. Ông bình tĩnh đợi cho địch vào sâu trong hào, khi toàn bộ trận địa mìn gài sẵn nằm phía sau lưng địch ông cho kích nổ. Cả những phía không phải hướng địch tràn lên, mìn cũng nổ rền vang, chát chúa. Ấy cũng là hiệu lệnh chiến đấu phát trên toàn chốt. Nhanh như sóc, ông vác khẩu B41, chọn những điểm dày địch nhất mà tiêu diệt. Ông bắn liên tục, di chuyển khắp các ngõ ngách hào. 45 quả B41 được bắn ra từ nòng súng của ông. Ấy là một kỉ lục, bởi bắn B41, tiếng nổ sẽ lớn gây chói tai, lọng óc. Vì thế quy định của quân đội 1 trận đánh chỉ được bắn 8 đến 16 quả. Sức khỏe của con người không thể chịu đựng được quá con số đó, người yếu thậm chí sẽ ngất ngay tại chỗ. Hết B41 thì ném lựu đạn. Ném 1 quả 1 lần không ăn thua, ông giật chốt 3, 4 quả 1 lúc. Hòm lựu đạn 100 quả ông xả bằng sạch. Quân địch bất ngờ, thấy mìn nổ xung quanh chốt ngay sau lưng cứ ngỡ đang bị quân ta bao vây vòng ngoài. Chúng hoảng hốt bỏ chạy. Cối 82, 60 phía sau trận địa cẩu xuống, B41, nựu đạn tứ phía dội vào, chúng giẫm lên nhau mà chạy. Chớp thời cơ, ông vẫy tay ra hiệu quân rút theo đúng đường rút của địch. Đại đội ông rút cầm chừng, giữ khoảng cách với quân địch chừng 200 mét để địch không thể nhìn rõ mặt cứ ngỡ đó là quân mình, cũng đang rút chạy như mình. Về đến Làng Giàng, đại đội ông được đón chào trong sự ngỡ ngàng của đồng đội. Có những người ôm chầm lấy ông mà khóc “Tao tưởng mày chết rồi.”. Trận đó đại đội ông tiêu diệt được hơn 400 quân địch. Ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng 1, Huy chương Tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc.

Ông ngừng kể, đôi mắt đượm chút buồn “Giá như ngày đó tôi biết có một đồng chí đang ở dưới hầm địa đạo, tôi sẽ cho quân xuống đón đồng chí đi theo. Nhưng khi ấy, chiến trận gấp rút, tôi chỉ nghĩ đến việc chớp thời cơ đưa quân  rời chốt càng nhanh càng tốt mà không lệnh cho chiến sĩ xuống hầm kiểm tra đồng đội. Ấy là một thiếu xót của người cầm quân. Để một đồng chí hi sinh trong hầm địa đạo mà không đưa xác rút theo là lỗi của một đại đội trưởng. Vì thế tôi không được phong anh hùng.” Tôi nhìn ông cười cảm thông. 17 năm trong quân ngũ, lăn lộn đủ các chiến trường, đã từng kinh qua 34 trận chiến đấu lớn nhỏ, trong đó có 4 trận ở Cam Pu Chia, 5 trận trong chiến tranh biên giới phía Bắc, trở về là một bệnh binh và đôi tai nhễnh nhãng bởi B41 đã là niềm cảm kích lớn với lớp hậu thế chúng tôi.

Ông nhấp ngụm nước chè, nói như chiêm nghiệm “Phải nói tôi là người may mắn. Qua bao nhiêu trận, có những trận tưởng sẽ chết mà cuối cùng vẫn sống. Cánh lính chúng tôi thời đó coi cái chết chỉ là sớm muộn. Còn sống sót qua trận nào thì còn tiếp tục chiến đấu, khi nào tử thần gọi thì buông tay. Nhẹ như thế mới can đảm xông lên trận mạc được.”

Năm 1990 ông trở về quê xã Y Can, huyện Trấn Yên làm một người dân bình thường như vô vàn người dân xóm núi. Cái đói cũng không chừa lại gia đình ông. Bữa cơm cũng chẳng khác chi những bữa cơm nơi chiến trường với của sắn củ nâu. Xoay đủ thứ nghề để kiếm sống nào là chạy nông sản cho Lâm trường Việt Hưng, chuyển gạo cho dân, đo gỗ cho lâm trường, bán quán, buôn bè dọc sông Hồng... vật lộn với cơm áo, gạo tiền nhưng ông vẫn hoàn thành nhiệm vụ dân giao: làm Bí thư Chi bộ thôn từ năm 1993 rồi lần lượt làm Phó Chủ tịch Hội nông dân xã, tham gia Ban Chấp hành Cựu chiến binh xã. Cho đến tận năm 2016, ông mới nghỉ làm công tác xã hội.

Năm 2007, Lâm trường Việt Hưng giải thể, ông huy động 12 nhà cùng nhận trông coi, bảo vệ 171 ha rừng tự nhiên sản xuất. Nhà nước hỗ trợ 40.000 đồng/1ha/1 năm. Năm 2010- 2011, 12 hộ cùng tham gia trông coi, bảo vệ rừng cùng ông bỏ hết. Họ kêu tiền hỗ trợ của nhà nước quá ít, không đủ tiền xăng xe lên với rừng, đã vậy rừng rộng lại rậm vất vả trong việc tuần tra, bảo vệ. Đặc biệt là hay va chạm với dân, bị dân ghét. Chỉ còn một mình ông vẫn kiên trì bám trụ. Từ năm 2017, nhà nước tăng lên 100.000 đ/1ha/1năm. Dù vẫn không đủ chi phí tiền xăng xe, dù có đến già nửa người dân trên địa bàn không ưa vì ông là kì đã cản mũi họ phát rừng mở rộng thêm nương rẫy thì ông vẫn kiên trì bám trụ. Ông bảo, những ngày sẻ dọc Trường Sơn cứu nước, gắn bó lâu năm với rừng ông mới thấm giá trị của rừng. Nếu không có rừng Tây Nguyên che chở thì không chắc quân ta đã thắng. Hình ảnh Mỹ nỗ lực thả bom phạt hòng gọt cho bằng hết cành lá cây rừng, rồi tiếp tục thả bom cháy thiêu rụi tất cả để quân ta không có nơi ẩn nấp, để chúng dễ bề tìm mục tiêu luôn ám ảnh ông. Giờ trở về với thường dân ông nhận bảo vệ rừng không phải vì lợi nhuận. Đơn giản ông muốn làm việc gì đó có ý nghĩa, muốn giữ một màu xanh cho rừng núi quê hương, giữ lại nguồn nước sạch như nó vốn có từ thủa xửa xưa. Vì những căn nguyên đó, ông chấp nhận vất vả phát cỏ dại cho cây rừng phát triển mà không phun thuốc trừ cỏ. Thấy hơn 100 ha rừng bên cạnh khu rừng của ông người ta phun thuốc trừ cỏ, ông đã tuyên truyền thuyết phục để họ dừng phun thuốc mà thuê người phát. Vậy là ông đã làm được mong muốn của riêng mình. Màu xanh vẫn còn đó, nguồn nước sạch từ lạch nguồn những cây rừng vẫn trong văn vắt để dân làng dẫn dây kéo về sinh hoạt. Gắn bó với rừng, đã có thời gian ông đầu tư làm trang trại lợn rừng trên đó. 12 con lợn rừng nái với hàng trăm lợn rừng con và 15 con trâu đã từng là một mô hình kinh tế điển hình khiến báo chí tìm đến ông. Giờ tuổi đã cao, ông tạm ngừng công việc vất vả ấy chuyển sang đắp 3 cái đập dưới khe núi để làm ao thả cá. Tiện thể ông đặt luôn 1 máy phát điện cung cấp điện cho lán của ông. 3 cái ao mỗi cái rộng chừng 5000m2. Dưới dộc, ông phát lau sậy trồng vài nghìn cây quế và bưởi, đấy là chưa kể hơn 10 ha trồng quế của gia đình từ trước. Tới đây, qua học hỏi, tham quan một số mô hình nuôi cá của mấy người bạn đã từng là lính, ông sẽ chuyển sang nuôi cá rô phi theo hướng công nghiệp và đầu tư máy móc để tự mình làm cám cho cá. Ông bảo, mấy ông là bạn lính đã tìm đầu mối cá giống cho ông và hứa sẽ lên tận nơi giúp ông khâu kỹ thuật để làm việc này. Rồi tương lai họ lại giúp ông nuôi cá giống. Vì nuôi cá giống sẽ cho thu nhập cao hơn. Tôi bật cười. Lại là những người lính! Những người lính trên mặt trận kinh tế thời bình. Tôi ngước nhìn hàng giấy khen ông đặt trên mặt tủ. Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Đức Duy cho ông Triệu Tiến Châu- Hội viên Hội truyền thống Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng tổ chức Hội truyền thống Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh giai đoạn 2012- 2017; Bằng khen của Hội truyền thống Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh Việt Nam tặng ông vì đã đạt danh hiệu điển hình tiên tiến 5 năm (2011- 2015). Hội truyền thống Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh Việt Nam tặng ông vì đã tham gia phát huy truyền thống 8 chữ vàng danh dự “Trường Sơn anh hùng, nghĩa tình đồng đội” và nhiều giấy khen của xã Y Can tặng ông. Tôi bắt gặp tấm huy hiệu 40 năm tuổi Đảng của ông được đặt trang trọng trên mặt tủ, nghĩ về những việc đã qua và những việc đang hiện hữu ngày hôm nay mà trong lòng dậy lên bao điều muốn nói.

 

H.K.Y

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter