• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Lễ “Pay so Tạy, so Ho’’- Lễ xin Tạy Ho trong hôn nhân của người Thái đen ở Mường Lò tỉnh Yên Bái
Ngày xuất bản: 30/11/2017 7:39:10 SA


Ths. Hoàng Thị Vân Mai

 Người Thái đen ở Mường Lò tỉnh Yên Bái có 53.104 người, chiếm 7.1% dân số toàn tỉnh (theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009), phần lớn sinh sống tập trung tại các xã, phường thuộc khu vực Mường Lò- (địa danh thuộc phía Tây của tỉnh Yên Bái, là một cánh đồng rộng hơn 2300ha, bao gồm các xã phường của thị xã Nghĩa Lộ và một số xã của huyện Văn Chấn). Địa danh này được tộc người Thái đen coi là vùng đất tổ trước khi toả đi cư trú khắp vùng Tây Bắc. Với truyền thống canh tác nông nghiệp lúa nước, sống định cư lâu đời trên vùng đất Mường Lò, người Thái đen đã hình thành nên bản sắc văn hoá tộc người thể hiện trên nhiều phương diện như hôn nhân, gia đình, lễ hội, đời sống sinh hoạt văn hoá vật chất và tinh thần.

Hiện nay, hôn nhân của người Thái đen vẫn còn lưu giữ các tập tục truyền thống bên cạnh việc chấp hành những quy định của Nhà nước trong Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, cùng với sự vận động và phát triển của điều kiện kinh tế xã hội tại địa phương, một số tập tục cũng đã có sự thay đổi về hình thức nhưng vẫn cố gắng lưu giữ ý nghĩa truyền thống của nó. Lễ “Pay so Tạy, so Ho” là một tập tục như vậy.

 “Tạy Ho” trong văn hóa của người Thái đen ở Mường Lò được coi như linh hồn hay bùa thiêng của mỗi người Thái từ khi họ mới sinh ra. Khi trong nhà có một đứa trẻ sinh ra, bất luận trai hay gái, đợi ra cữ (nam sau 7 ngày, nữ sau 9 ngày), nhà nội sẽ đan Tạy Ho cho chúng. Bởi người Thái vẫn có câu: “Ải tà sản ú/ Ải pú sán tạy” có nghĩa là “Bên ngoại đan nôi/ Bên nội đan tạy” và thông thường sẽ do ông, bà, cha hoặc một người thân trong gia đình đảm nhiệm.

“Tạy Ho” của nam và nữ được đan bằng tre, là những vật có hình dạng khác nhau, nhưng đều có ý nghĩa là nơi ở của vị thần hộ mệnh và một phần linh hồn của đứa trẻ.

“Tạy” của nam gồm một vật đan hình trụ tượng trưng như một giỏ bắt cá, một chiếc quạt, một cái cung và một mũi tên nhỏ. Còn nếu đứa trẻ là con gái, thì Tạy Ho đan cho cô bé có hình chiếc gùi, kèm theo cái cung bật bông và một vật có hình gần giống như cái muôi mà người ta gọi là “Khuổm khuân- vật giữ linh hồn/ thần hộ mệnh”. Có thể thấy rõ sự phân biệt giới tính gắn với phân công lao động của nam và nữ được thể hiện rõ qua sự khác nhau của Tạy Ho của nam và nữ cũng như những mong muốn mà người lớn muốn gửi gắm cho đứa trẻ khi trưởng thành.

Sau khi Tạy Ho được đan xong, vào ngày lễ đặt tên (sau sinh từ bốn, năm ngày hoặc đầy tháng) ông bà hoặc cha mẹ sẽ làm lễ cúng Tạy. Trong lễ này, gia đình sẽ chuẩn bị một mâm cơm đặt vào nơi thờ tổ tiên, gia chủ làm lễ “ông Tạy, bà Tạy” xong mới treo Tạy Ho lên chỗ quy định. Nếu đứa trẻ là con trai sẽ treo ở góc bên “quản”- nơi dành cho con trai, ở góc bên bàn thờ tổ tiên. Nếu đứa trẻ là con gái sẽ được treo bên “quản”- nơi dành cho con gái, ở trần nhà từ phía cầu thang đi lên.

Cũng từ đây, người Thái sẽ làm lễ nhập họ cho đứa trẻ. Sau khi hoàn tất nghi lễ này, đứa trẻ đó chính thức có tên họ và trở thành thành viên của gia đình. Vì thế khách đến chơi nhà, chỉ cần nhìn lên mái là biết nhà này có bao nhiêu con và số trai, gái cụ thể.

Đối với những người con trai thì nhiệm vụ giữ Tạy Ho thuộc về người con trưởng. Trưởng họ có trách nhiệm giữ Tạy Ho cho cả các anh em trai của mình, bởi giữ Tạy Ho là giữ vận mệnh của người đó. Do vậy, Tạy Ho đã treo lên rồi thì kiêng không lấy ra đặt lại hoặc đan lại. Trừ khi có sự di chuyển cấp thiết thì phải tuân theo những nghi lễ nhất định. Như vậy, tục treo “Tạy Ho” không mang tính đẳng cấp mà mang ý nghĩa ngang hàng, tập hợp một cộng đồng người cùng huyết thống. Giàn Tạy Ho của nam sẽ gồm tất cả nam giới sinh ra từ một ông tổ gốc và nó hoàn toàn không bị bớt đi (chỉ có thêm nếu gia đình có sinh thêm những đứa bé trai)

Khác với giàn Tạy Ho của bên nam, giàn Tạy Ho của bên nữ sẽ có những biến động, đó là có thể thêm vào hoặc sẽ bớt đi. Trường hợp được thêm vào đó là khi những người con trai trong gia đình lấy vợ, được xin Tạy Ho về và treo cùng với các cô gái. Còn bớt đối với trường hợp các cô gái đi lấy chồng và cũng được nhà chồng xin Tạy Ho của mình về. Do đó, lễ xin Tạy Ho đóng vai trò quan trọng trong hôn nhân của người Thái đen.

 Lễ  “Pay so Tạy, so Ho”- Lễ xin Tạy Ho của người Thái đen giống như một lễ cưới lần thứ hai- lễ rước toàn bộ linh hồn và thần hộ mệnh của cô gái từ nhà bố mẹ đẻ về nhà chồng. Cha mẹ cô gái sẽ gỡ Tạy Ho của cô gái ở nhà mình, đem đến và treo lên trên áp mái nhà của nhà thông gia. Khi đó người phụ nữ ấy hoàn toàn thuộc về nhà chồng, nó gần như là một nghi thức nhập họ của nhiều dân tộc khác.

Trong hôn nhân cổ truyền của người Thái, cô gái khi đi lấy chồng sẽ chưa được mang theo Tạy Ho của mình về nhà chồng ngay mà chỉ tiến hành làm lễ xin Tạy Ho trong các trường hợp sau: Thứ nhất, hai vợ chồng thường xuyên ốm đau, nhà chồng làm lễ xin Tạy Ho của cô gái từ nhà bố mẹ đẻ về để cho khỏe mạnh hơn. Trường hợp thứ hai đó là khi sau một thời gian dài (có thể từ mười đến hai mươi năm) hai vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã đủ điều kiện kinh tế để thực hiện lễ xin Tạy Ho của cô gái, thì nhà trai và nhà gái lại sắm lễ như đám cưới và tiến hành cho cô gái mang Tạy Ho của mình về, khi đó cô gái chính thức gia nhập họ nhà chồng. Sau nghi lễ này, mọi việc liên quan đến đám cưới mới hoàn toàn kết thúc và cũng từ đây, cho dù có bất cứ việc gì xảy ra, người con gái đó cũng không được quay về gia đình gốc của mình nữa. Trường hợp thứ ba, nếu trong suốt quá trình hôn nhân, gia đình nhà trai vẫn chưa làm lễ xin Tạy Ho cho cô gái về nhà mình, đến khi cô gái qua đời, nhà trai sẽ phải lo đi xin Tạy Ho về, bởi nếu không cô gái sẽ không được làm dâu tổ tiên nhà chồng. Khi đó, nhà trai sẽ phải cho người sắm lễ vật gồm một con lợn nhỏ khoảng 10 kg; hai “bảng”, hai “háp” nhưng không đan bằng lạt màu mà đan bằng lạt trắng; rượu, trầu cau. Sang nhà ngoại, họ sẽ mời thầy cúng để cúng tổ tiên, nhà ngoại sẽ chuẩn bị chăn, đệm nhỏ tượng trưng, hai chiếc bát, hai chiếc đĩa, gối, chiếu, nồi cùng với Tạy Ho của cô gái (lúc này có thể chỉ là một chiếc lạt trắng, buộc thắt nút một đầu làm tượng trưng). Toàn bộ những lễ vật và Tạy Ho sẽ được mang về, cho vào quan tài và đốt tại bãi tha ma.

Tất cả những nghi lễ này cho thấy đối với người phụ nữ Thái, lễ xin Tạy Ho từ nhà của họ về nhà chồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi chỉ khi nào Tạy Ho của cô gái được mang về nhà chồng thì khi đó cô mới chính thức trở thành thành viên của gia đình nhà chồng. Trong trường hợp không xin đưc Tạy Ho của mẹ về, khi người bố chết đi sẽ thành ma không có vợ và theo người Thái khi đó, hồn sẽ quay về quấy con cháu.

Trong trường hợp bên nhà ngoại không còn ai (bố mẹ, anh em trai và các cháu trai đều đã chết hoặc thất lạc không tìm thấy), người Thái có linh hoạt cho phép xin Tạy Ho tại bàn thờ họ ngoại “co lo hoong”  trong vườn nhà chồng.

 Để tránh sự phiền hà khi chưa xin Tạy Ho mà cô dâu chết và cũng giảm được các lễ vật cho một nghi thức đám cưới lần hai, hiện nay, trong các nghi lễ đám cưới của người Thái đen ở Mường Lò, khi đi đón dâu, nhà trai sẽ làm lễ xin Tạy Ho của cô dâu và cử người mang ớp, áo và thắp hương trong suốt quá trình mang Tạy về cắm bên “chan” nhà mình. Người mang Tạy Ho sẽ đi vào nhà trước khi cô dâu lên nhà trai để làm lễ tại bàn thờ tổ tiên. Tạy Ho lúc này có thể chỉ là một chiếc lạt buộc tượng trưng. Đến Tết, nhà trai sẽ đan cho cô dâu một chiếc Tạy Ho mới cắm cùng giàn Tạy Ho của nhà mình. Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng đem lại phiền phức trong trường hợp hai vợ chồng cô gái ly dị, cô gái bỏ về nhà ngoại, nếu đi lấy chồng khác sẽ phải đi xin lại Tạy Ho từ nhà chồng cũ, điều này thường không mấy dễ dàng.

 Hôn nhân của người Thái đen từ lâu đã duy trì chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và tuân thủ nguyên tắc ngoại hôn. Tất cả các thành viên trong cùng  một tông tộc đều phải tuân thủ nguyên tắc này. Đẳm là tông tộc bao gồm những gia đình có họ hàng với nhau. Họ đều có chung một nguồn gốc một ông tổ. Ngoại hôn- cấm có quan hệ hôn nhân trong khuôn khổ tông tộc là nguyên tắc quan trọng để củng cố sự thống nhất bên trong của đẳm. Theo đó, người đàn ông không bao giờ có thể dời đẳm này sang đẳm khác, còn người đàn bà khi đã đi lấy chồng thì trở thành thành viên của đẳm chồng mình.

Như vậy, lễ “Pay so Tạy, so Ho” đánh dấu thời điểm cô gái trở thành thành viên của “đẳm” bên nhà chồng. Nhưng cũng có thể thấy rằng, lễ xin Tạy Ho còn mang dấu ấn của sự chuyển đổi từ mô hình hôn nhân cư trú bên nhà vợ sang hôn nhân cư trú bên nhà chồng. Điều này đã xảy ra khi người con trai còn đang ở rể cho đến khi không còn phong tục này nữa thì tập tục xin Tạy Ho vẫn còn tồn tại như một sự minh chứng cho điều đó. Cùng với thời gian, lễ xin Tạy Ho có nhiều thay đổi cho phù hợp với cuộc sống về mặt hình thức nhưng vẫn không mất đi ý nghĩa nhân văn đối với tộc người Thái đen ở Mường Lò, Yên Bái.

 

                                                                                            H.T.V.M

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter