• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Chuyện về 4 cán bộ tiền khởi nghĩa còn lại của Thành phố Yên Bái
Ngày xuất bản: 01/03/2019 8:33:21 SA

Ghi chép của Trần Thi

 Gia đình tôi sinh sống ở thành phố Yên Bái đã hơn 150 năm. Tôi lớn lên đắm mình trong những câu chuyện bi hùng của thành phố được các bậc cao niên kể lại. Thị xã Yên Bái xưa với diện tích chỉ hơn 1km2 (từ khu điều dưỡng cán bộ tỉnh đến chợ trung tâm hiện nay), nhưng đã tạo ra tiếng vang cả nước, thậm chí tới cả “mẫu quốc” Pháp. Đó là cuộc khởi nghĩa Yên Bái của lãnh tụ Quốc dân đảng Nguyễn Thái Học ngày 9/2/1930, phong trào Thanh niên đoàn 1930-1931 mà lần đầu tiên người dân thị xã được nhìn thấy lá cờ đỏ búa liềm. Và 15 năm sau là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Sau những năm tháng công tác, được nghỉ hưu, tôi tìm đến các bậc tiền bối trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng ở thị xã xưa để được nghe, được tự hào về mảnh đất, về những người con Yên Bái xưa đứng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến. Các bác được Tỉnh ủy công nhận hoạt động tiền khởi nghĩa tại thị xã trước năm 1945 có hơn chục người, nay chỉ còn 4 bác, bác Trần Văn Phàn, Đào Thái, Cao Văn Hiên, Đặng Ngọc Chi. Có một điều đặc biệt là các bác đều từ tuổi 90 trở lên, nhưng trí nhớ thật đáng kính nể. Hỏi chuyện về thời kỳ hoạt động trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945, các bác kể lại như chuyện mới xảy ra hôm qua.

 Người cao tuổi nhất là bác Trần Văn Phàn, tức Trần Thủy. Bác sinh 1920, nếu tính tuổi ta bác tròn 100 tuổi, hiện cư trú ở phường Nguyễn Thái Học. Bác Phàn quê ở xã Minh Quân, huyện Trấn Yên. Bác là con út trong gia đình có 8 anh chị em. Gia đình bác thuộc tầng lớp trung nông. Do sáng dạ, gia đình cho bác lên thị xã Yên Bái học trường Pháp, sau 3 năm học thì đỗ sơ học yếu lược. Năm 1940, bác được anh trai thứ hai làm ở nhà Giây thép xin cho làm bưu tá.

       Bác Phàn nặng tai, tôi hỏi câu gì đều phải viết ra giấy. Tôi hỏi bác quá trình tham gia cách mạng ở thị xã như thế nào. Bác đăm chiêu nhìn xa xa, rồi ký ức xưa cứ thế ùa về. Bác kể: “Do làm bưu tá, biết tiếng Pháp nên tôi đọc nhiều sách báo, chỗ nào thị xã cũng đến, tiếp xúc với nhiều lớp người, nhất là các trí thức già hay kể về các nhà yêu nước, như Nguyễn Thái học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh; được chứng kiến bọn Tây vung dùi cui vừa đánh, vừa chửi người Việt là cô sông (con lợn), tức lắm nhưng không làm gì được. Cứ như vậy, lòng yêu nước lớn dần lên trong tôi và nó chỉ hình thành rõ nét khi tôi gặp anh Nguyễn Văn Chí (tức chí Dũng), làm nghề đánh xe ngựa chở hàng và người ở thị xã. Anh Chí Dũng là cán bộ Việt Minh. Anh giảng giải cho tôi về cương lĩnh của Việt Minh, đưa cho tôi tờ báo Giải Phóng và tờ Cứu Quốc, hướng dẫn cách tuyên truyền, giác ngộ thanh niên thị xã theo Việt Minh. Thấy tôi làm tốt nhiệm vụ giao, ngày 1/4/1945, anh Chí Dũng gọi tôi đến nhà và tuyên bố kết nạp tôi vào tổ chức Việt Minh. Một điều may mắn nữa tôi được anh Chí Dũng giới thiệu với anh Nguyễn Hữu Minh (tức Minh Đăng), người phụ trách phong trào Việt minh của thị xã.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Trung ương Đảng đã có Chỉ thị kháng Nhật, thấy thời cơ đến, anh Minh Đăng quyết định thành lập Ban Chấp hành lâm thời Việt Minh tại thị xã. Ban Chấp hành lâm thời gồm 5 người, anh Minh Đăng phụ trách chung, anh Mai Văn Ty phụ trách phong trào công nhân Đề pô, anh Chí Dũng phụ trách công đoàn xe ngựa và thường trực, chị Thêm phụ trách phụ nữ và tôi phụ trách phong trào thanh niên, học sinh. Anh Minh Đăng giao cho tôi phải tổ chức rải truyền đơn, dán áp phích kêu gọi mọi người tham gia đánh Nhật, giải phóng khỏi ách áp bức, nô lệ. Phong trào Việt Minh ở Bảo An binh giao cho Hoàng Hồng Tuân (cai Tuân) phụ trách. Tôi tập hợp 10 thanh niên khỏe mạnh, chia thành 5 nhóm, thống nhất khi nhà máy đèn tắt điện được 10 phút thì đồng loạt rải truyền đơn, dán áp phích ở nhà ga, chợ, nơi đông người, có nhóm còn giải truyền đơn cạnh bốt gác của Nhật. Bọn Nhật và chính quyền tay sai rất hoang mang. Biết tôi đã bị lộ, anh Minh Đăng gửi tôi và một số người vào chiến khu Cổ Văn (Lục Yên) học lớp quân chính. Lớp này do đồng chí Hoàng Văn Thái giảng. Chúng tôi đến nơi thì lớp học gần kết thúc, chúng tôi được gửi sang Tân Trào học trường quân chính kháng Nhật. Đến Tân Trào thì phát xít Nhật đầu hàng, tôi được biên chế vào chi đội 1 giải phóng quân và tiến đánh quân Nhật ở Thái Nguyên, sau đó tiến về Hà Nội. Chúng tôi đóng quân ở Trại Bảo An binh Hà Nội, hàng ngày tập đi đều để chuẩn bị duyệt binh trong ngày Quốc khánh 2/9. Sau Quốc khánh, đơn vị tôi chuyển vào Thanh Hóa. Tôi được phân công làm giảng viên chính trị. Tháng 12/1945, tôi được kết nạp vào Đảng tại Phòng Chính trị Liên khu 4; cuối năm 1947 được bầu vào Đảng ủy quân sự Liên khu 4 và Ban Thường vụ, phụ trách đảng vụ và trưởng phòng kiểm tra và cán bộ Liên khu. Tôi đi khắp vùng Nghệ An, Thanh Hóa hoạt động, sức khỏe giảm sút, tháng 6/1948 thì bị viêm phổi nặng. Sau khi chữa bệnh, tôi được cấp trên cho chuyển về Yên Bái công tác, hồ sơ đảng được chuyển theo đường giao liên. Tháng 5/1949, tôi về Yên Bái, được Ban tổ chức Tỉnh ủy tiếp nhận và phân công làm Chánh văn phòng tỉnh bộ Việt Minh. Về lại quê hương công tác tôi mừng lắm, nhưng cũng rất buồn vì được biết 3 người đảng viên của Chi bộ đầu tiên của thị xã Yên Bái là các anh Minh Đăng, Chí Dũng, Mai Văn Ty, những người dìu dắt tôi đi theo con đường cách mạng đều đã hy sinh. Do chiến tranh đang ở giai đoạn ác liệt, hồ sơ đảng của tôi bị thất lạc; tháng 10/1949, tôi được kết nạp lại vào Đảng. Tháng 7/1950, tôi được Tỉnh ủy chỉ định tham gia Đảng đoàn Ủy ban Mặt trận liên Việt tỉnh. Tháng 9/1956 được đề bạt làm Ủy viên Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh; đến tháng 6/1966, được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và giữ chức vụ này đến năm 1975 thì nghỉ hưu”.  

Bác Đào Thái hiện ở cùng phường Hồng Hà với tôi. Bác sinh năm 1929, tôi hay gặp và đàm đạo việc đời, việc người với bác. Bác Đào Thái đến với cách mạng khi mới 15, 16 tuổi. Bác kể: “Nhà ở bên xã Hợp Minh (nay là phường Hợp Minh thuộc thành phố Yên Bái), khi tôi mới 15 tuổi nhưng lại cao to hơn những người cùng trang lứa, tôi đã từng vác gậy đuổi hổ về làng bắt lợn, bắt sống cướp ăn trộm ngô. Giữa năm 1944, người bác ở Thái Bình được Tỉnh ủy phân công lên Nghĩa Lộ đón tù chính trị của Thái Bình được mãn hạn tù trở về. Bác nói với bố mẹ tôi cho tôi đi cùng vào. Trên đường đi bác giải thích cho tôi về Việt Minh, về con đường đánh đuổi thực dân, phong kiến của Đảng. Bác vẽ ra đất lá cờ búa liềm và bảo tôi đó là lá cờ biểu tượng của Đảng Cộng sản. Sau chuyến đi đó trở về, bác giới thiệu tôi với lãnh đạo chiến khu Vần- Hiền Lương. Tôi được phân công làm liên lạc cho đồng chí Nguyễn Hữu Minh, là giáo viên ở phố Yên Thái, phụ trách Việt Minh thị xã. 16 tuổi tôi trở thành người của tổ chức Việt Minh. Hàng ngày tôi sang thị xã học và làm liên lạc, tối lại qua đò trở về Hợp Minh. Tôi nhớ vào dịp tết hàn thực (3/3 ta) năm 1945, anh Minh Đăng giao cho tài liệu về Hiền Lương gặp anh Ngô Minh Loan. Tôi cuộn tài liệu đút vào trong cây trúc, lấy đất sét bịt lại, làm gậy chống. Anh Ngô Minh Loan giao tài liệu cho tôi mang về thị xã. Hôm sau, anh Minh Đăng hẹn tôi tối đi cùng anh đến nhà anh Chí Dũng ở phố xe ngựa(nay là chợ trung tâm của tỉnh). Anh Chí Dũng mới làm một cái lán ngoài vườn, vợ anh bảo tôi mang đĩa xôi lên đặt ở bàn trong lán mới (sau này tôi được biết nếu có người lạ đến thì coi như khánh thành lán mới). Tôi bưng đĩa xôi vào lán, giật mình nhìn lên đầu hồi lán thấy treo một cái chăn đơn màu cỏ úa, giữa chăn có đính búa liềm cắt bằng giấy trang kim lóng lánh. Một lúc sau thì anh Mai Văn Ty là công nhân ở xưởng đề pô tới. Anh Minh Đăng bảo tôi ra phía bờ sông Hồng cảnh giới, thấy người lạ thì báo. Tôi nghĩ chắc là có cuộc họp quan trọng của Việt Minh. Sau này khi đã vào Đảng, tôi luôn nghĩ, có thể tài liệu anh Ngô Minh Loan đưa tôi mang về cho anh Minh Đăng là quyết định kết nạp anh Chí Dũng vào Đảng và thành lập chi bộ; chỉ tiếc rằng ba đảng viên Mai Văn Ty, Minh Đăng, Chí Dũng đều đã hy sinh, nên vẫn chưa có kết luận về địa điểm ra đời Chi bộ đầu tiên.

  Sau khi đội du kích Âu Cơ thành lập, cần phát triển lực lượng, tôi muốn gia nhập nhưng tổ chức cần tôi ở lại. Anh Minh Đăng chủ trương tuyên truyền thanh niên thị xã đi chiến khu ra lập lực lượng cứu quốc quân. Anh Minh Đăng giao cho tôi 4 lần đưa thanh niên thị xã, khoảng hơn 30 người, qua bến đò ngòi Chanh, qua thôn Phúc Khánh của xã Hợp Minh rồi vượt rừng vào Đồng Phú, Đồng Mánh của xã Việt Cường để vào Vần. Trong số các thanh niên đi chiến khu có thanh niên Nguyễn Văn An sau này trở thành Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt nam. Sau khi khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 thắng lợi, tôi được điều về phòng Thông tin tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Phúc phụ trách. Phòng Thông tin có anh Cao văn Hiên, Kim Doãn, Đào Thái, Quốc Việt, Đức... Đề phòng Quốc dân đảng bắt cóc, đêm ngủ đồng chí Nguyễn Phúc nằm giữa, nửa đêm lại thay đổi vị trí chỗ ngủ”.

Đầu năm 1946, tôi được giao làm Đội trưởng DĐội cận vệ gồm 7 người, làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng ác liệt, tôi được giao làm Trưởng Ban Giao thông kháng chiến gồm 13 người, là đường dây liên lạc từ khu 10 (Hạ Hòa- Phú Thọ) lên tới Lao Cai. Sau này Ban Giao thông kháng chiến lên tới 73 người. Cuối năm 1947, tỉnh thành lập Ty Giao thông- Bưu điện, tôi được cử làm phó ty; sau đó lại được điều làm Chính trị viên Trung đội thuộc tỉnh đội. Tháng 2/1948 tôi được kết nạp vào Đảng tại Tỉnh đội Yên Bái. Năm 1952, tôi được lên Tỉnh đội Lao Cai. Năm 1965, khi đang là Huyện đội trưởng Bát Xát thì được điều về đơn vị pháo cao xạ ở Lạng Sơn. Năm 1965, tham gia Tiểu đoàn Phắt Khắt đi Nam chiến đấu. Đến tháng 7/1976 thì được nghỉ hưu và về Yên Bái sincjT”.  

Bác Cao Văn Hiên cũng sinh năm 1929, quê ở Bình Lục Hà Nam; gia đình lên Yên Bái vào năm 1931, ở phố Yên Hòa (Trường PTTH Lý Thường Kiệt bây giờ). Bố làm nghề kéo xe tay, mẹ gánh nước thuê và đan rổ rá. Bác kể tuy gia đình khó khăn, đông anh em, nhưng tính về con trai bác là trưởng lên được gia đình cho học hết tiểu học trường Pháp, đến năm 1943 thì gia đình cho học nghề chiếu bóng tại rạp hát Tư Đoan (nay ở đường Thanh niên, sau Trường THPT Lý Thường Kiệt). Hiện bác ở phường Hợp Minh. Bác có sức khỏe tốt lắm, da đỏ au, tuy 90 tuổi bác vẫn đi xe đạp điện sang nhà tôi chơi. Bác nặng tai, nên lúc nào cũng đeo máy nghe, nói to và sôi nổi.

Khi tôi gợi hỏi về quá trình tham gia cách mạng, uống xong chén nước, bác kể liền một mạch: “Làm ở rạp chiếu bóng, thường được theo ông chủ về các rạp Edel, Majectic ở Hà nội thuê phim, được nghe chuyện về Việt Minh treo cờ trên nóc Nhà hát lớn, chặn tàu hỏa tuyên truyền về đường lối cứu nước của Việt Minh. Một buổi trưa vào cuối năm 1944, tôi đem chuyện về Việt Minh kể với anh Đồng cùng làm. Thấy tôi muốn tìm hiểu về Việt Minh, anh Đồng đưa 2 tờ báo Cứu Quốc in litô cho tôi đọc và giảng giải cho tôi về đường lối cứu nước của Việt Minh. Hóa ra anh đã là người trong hội kín. Ngày 12/3, Nhật kéo quân lên chiếm Yên Bái không vấp phải kháng cự nào.

Người dân thị xã hoang mang, anh Đồng khuyên tôi thoát ly đi theo cách mạng trước, anh sẽ đi sau để tránh mọi người nghi ngờ. Tôi sang đò ở bến Ngòi Chanh, nói dối sang bà Phê mua trầu không cho bà chủ rạp. Không ngờ anh lái đò là con bà Phê, anh phủ đầu tôi đi tìm Việt Minh phải không. Thấy tôi tái mặt, lúng túng, anh nói đi tìm Việt Minh tôi chỉ đường cho. Tôi gật đầu. Anh bảo đi qua rừng cấm vào thôn Nụ Điền, rồi sang Âu Lâu sẽ gặp Việt Minh. Vào đến làng Nụ Điền, tôi bị 5 người chặn lại kiểm tra, sau đưa đến nhà ông Lý Trường Phúc. Rất may tôi gặp anh Hiền con ông Phúc cùng học với nhau, nên tôi được các anh đưa sang Âu Lâu. Đang trên đường đi, tôi nhìn thấy 2 ngựa đi tới. Tôi reo lên khi nhận ra anh Phước cũng là người thị xã, anh từng bị bắt đi lính khố xanh. Anh Phước giới thiệu tôi với anh Cự  (sau tôi biết anh Đoàn Măng Cự từng là cai đội lính khố xanh). Chúng tôi vào đồng bằng Khánh Môn, ở đây tôi gặp nhiều thanh niên bên thị xã sang, như anh Đào Thái, Lê Quý Ân, An Văn Kính, Phạm Văn Tuyên... Hàng ngày anh Cự (gọi là trung đội trưởng) hướng dẫn  chúng tôi tập quân sự. Sau thời gian luyện tập quân sự tôi được chuyển sang tổ cứu thương, học tiêm, băng bó vết thương. Một buổi tối, tôi, anh Lê Quý Ân được gọi vào nhà ông Tổng Chung để gặp anh Nguyễn Phúc. Anh Phúc đưa chúng tôi quyển sách nhỏ, bìa in chữ Điều lệ Việt Minh tóm tắt và bảo anh Lê Quý Ân đọc. Sau đó anh giảng giải cho chúng tôi tôn chỉ, mục đích, tổ chức hoạt động của Việt Minh; anh hướng dẫn cách tuyên truyền, rải truyền đơn. Đêm hôm sau, anh Phúc giao cho chúng tôi sang thị xã rải truyền đơn ở chợ, rạp hát, các quán.

Sau khi giành được chính quyền, ngày 22/8, ta tổ chức mít tinh chào mừng khởi nghĩa thắng lợi và ra mắt Ủy ban khởi nghĩa lâm thời tỉnh, gồm 10 người do anh Ngô Minh Loan là Chủ tịch, anh Nguyễn Phúc là Phó Chủ tịch. Một tuần sau, theo thỏa thuận của đồng minh, quân Tưởng Giới Thạch theo đường Vân Nam vào miền Bắc giải giáp quân đội Nhật. Anh Trần Đức Sắc thành lập đội quân lên Phố Lu đánh Tưởng. Tôi thấp bé lại không có súng nên bị anh Sắc loại. Tôi gặp anh Nguyễn Phúc, anh bảo về phòng thông tin với anh. Phòng thông tin đóng ở nhà Đoan, gồm chục người, trong đó có Đào Thái, Doãn Kim.

Mặc dù Quốc dân đảng do Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Hải núp bóng quân Tưởng khủng bố, tống tiền gây hoang mang trong dân, nhưng anh Nguyễn Phúc vẫn chỉ đạo củng cố, xây Dựng chính quyền ở các xã. Tôi và anh Hồng Đức được cử vào làng Hào Gia thành lập Ủy ban. Mấy ngày sau tôi và mấy người nữa được tỉnh bộ Việt Minh cử vào Văn Chấn tham gia đánh Quốc dân đảng. Sau khi giải phóng Yên Bái khỏi Quốc dân đảng, tôi được điều về đánh máy ở Ty Công an, được sử dụng một đài thu phát tín hiệu. Anh Lê Quang Ấn- Chính trị viên Đại đoàn 2 đóng tại Việt Trì lên Yên Bái công tác thấy tôi đang chiếu bóng bằng máy Mỹ cho bộ đội xem, anh đề nghị với tỉnh cho tôi về Việt Trì chiếu cho bộ đội xem. Một thời gian sau tôi xin với anh Ấn cho học thông tin, anh đồng ý. Từ đó tôi vào bộ đội chủ lực, đi nhiều chiến trưởng, cả chiến dịch Tây Bắc, Điện Biên Phủ, tôi luôn gắn với nghiệp làm thông tin liên lạc. Đến 30/6/1974 thì được nghỉ hưu”. Bác tâm sự được vào Đảng năm 1949, nhưng ở tiểu đội thông tin đi theo các đại đội vào cả hậu địch, giấy tờ quan trọng, cả hồ sơ đảng phải để lại; sau thất lạc đơn vị không tìm được, đến năm 1959 mới được kết nạp lại vào Đảng.

       Gia đình bác Đặng Ngọc Chi lên thị xã Yên Bái từ năm 1897, sống ở phố Yên Hòa; sau khi rời quân ngũ bác sống ở phường Nguyễn Phúc. Ngày đầu xuân tôi đến thăm bác. Ngồi nhâm nhi chén nước, tội gợi hỏi bác về thời thơ ấu. Bác kể: Bác sinh năm 1927, là con út trong một gia đình có 8 người con. Bố chết sớm, nhà lại nghèo.Năm 10 tuổi đã phải phụ mẹ gánh nước thuê, lấy củi, lấy nứa bán, 12 tuổi trở lên đã phải đi ở, làm thuê, 14 tuổi thì theo học nghề cắt tóc. Đầu tiên tôi học nghề bác Hai Chố ở phố Yên Thái. Năm 1942 bác qua đời, tôi xin làm ở hiệu bác Ngọc Dung. Năm 1944 tôi trở thành thợ chính, đến cuối năm tôi xin bác ra làm ngoài. Do hoàn cảnh nhà nghèo, mãi 15 tuổi, khi có hội truyền bá Quốc ngữ ở thị xã, tôi mới được đi học vỡ lòng; học hai năm vào các dịp học sinh nghỉ hè. Người dạy chữ cho tôi là anh Nguyễn Hữu Minh (tức Minh Đăng). Ngoài dạy học, anh Minh Đăng còn kể cho chúng tôi về lịch sử dân tộc, về ông cha ta đánh giặc ngoại xâm, về khởi nghĩa Yên Bái do ông Nguyễn Thái Học lãnh đạo, về Thanh niên đoàn treo cờ đỏ búa liềm trước cổng Trường tiểu học Pháp- Việt... Tinh thần yêu nước cứ thấm dần vào chúng tôi. Buổi tối thanh niên chúng tôi rủ nhau ra sân Căng tập võ, rồi rủ nhau đi đánh Tây say rượu. Anh Minh Đăng biết chuyện chúng tôi đánh Tây say rượu, anh gọi chúng tôi đến giảng giải, đánh một thằng Tây say rượu chưa đủ mà   phải đứng lên đuổi hết bọn xâm lược về nước. Anh Minh Đăng bảo tôi cắt tóc cho lính khố xanh, khố đỏ thì thăm dò hoàn cảnh họ, làm quen để nắm thông tin về bọn Pháp rồi thông báo cho anh biết. Anh Minh Đăng hỗ trợ tôi tiền sắm đồ nghề cắt tóc, mua thẻ thuế thân để đi cắt rong, qua đó sẽ thuận lợi cho việc tuyên truyền mọi người theo Việt Minh. Đến ngày 22/3/1945, tôi được kết nạp vào Đoàn thanh niên cứu quốc trong tổ chức mặt trận Việt Minh.

       Ngày 22/3/1945, Nhật kéo lên chiếm Yên Bái, ngay trong đêm hôm đó theo chỉ đạo của Việt Minh thị xã, thanh niên cứu quốc chúng tôi đã hô hào nhân dân thị xã lấy sạch kho thóc ở đây, quân Nhật ở thị xã mới có một trung đội không kịp phản ứng. Biết tôi là người của tổ chức Việt Minh, một số người theo Nhật đã báo cho Lý trưởng phố Yên Hòa. Các anh trong Ban chấp hành lâm thời Việt Minh thị xã đã khuyên tôi rủ thêm người vào chiến khu Vần. Vào cuối tháng 5/1945, tôi và một số người rời thị xã vào lực lượng vũ trang của Đảng.

       28 năm sống trong quân ngũ, lại được ở Đại đoàn 308, được Đại tướng vinh danh Đại đoàn quân Tiên phong, tham gia các chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Biên giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ, tôi được kết nạp vào Đảng năm 1947. Sau khi giải phóng Điện Biên, Đại đoàn 308 chúng tôi được lệnh vào tiếp quản Hà Nội. Trước khi vào Hà Nội, đơn vị chúng tôi vinh dự được gặp Bác Hồ tại đền Hùng. Chúng tôi nhớ mãi lời Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Tháng 6/1973 tôi được nghỉ hưu, trước khi nghỉ hưu tôi có 10 năm làm Viện trưởng Viện kiểm sát Sư đoàn 308”. Tuy cao tuổi bác Chi vẫn tham gia công tác Mặt trận, hội người cao tuổi của phường.

       Các bác Trần Văn Phàn, Cao Văn Hiên, Đào Thái, Đặng Ngọc Chi cho biết có khoảng hơn 30 người hoạt động trước cách mạng tháng Tám năm 1945 ở thị xã Yên Bái. Nhiều người mất đã lâu, một số không có hồ sơ nên không làm được chế độ. Với lại có ai nghĩ hoạt động cách mạng để sau này được tôn vinh đâu.

T.T

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter