• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Tết trong thơ dân tộc thiểu số
Ngày xuất bản: 24/01/2017 2:37:04 SA

Song Quyên

 Theo nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc, những dịp tổ chức lễ- tết- hội sẽ làm sống lại thuở cội nguồn của hiện tượng bằng những hệ thống biểu tượng của nó, giải phóng những xúc cảm bị kìm hãm trong đời sống đơn điệu hàng ngày. Cộng đồng các dân tộc thiểu số có nhiều lễ, tết: tháng Giêng có lễ Tết Nguyên Đán, hội xuống đồng, tết cầu phúc; tháng hai hội núi; tháng ba có lễ tảo mộ (thanh minh); tháng tư có lễ và hội hát đình; tháng năm, tháng sáu có lễ cúng thần nông, giết sâu bọ; tháng bảy có lễ Rằm tháng bảy (Bươn chiêng xo ất bươn chất líp slí- Tháng Giêng ngày mùng một, tháng Bảy ngày mười bốn); tháng chín và tháng mười có lễ mừng cơm mới, làm cốm… Mỗi dịp như thế, con người khắp bản mường lại có cơ hội tụ họp với nhau, vui chơi, ca hát… Thơ hiện đại các dân tộc thiểu số có nhiều tác phẩm phản ánh đời sống và tâm thế con người mỗi dân tộc trong mỗi dịp lễ, tết, trong đó tập trung vào hai đề tài chính.

Niềm vui gắn kết

Tết đến làng/ Eng éc lợn kêu/ Thùm thụp chày giã gạo/ Ơi ới người gọi người/ Khắp cánh đồng râm ran tiếng núi (Mặt hồng cười- Y Phương). Người đọc có thể bắt gặp nhiều niềm vui như thế trong những sáng tác về tết của các nhà thơ dân tộc thiểu số bởi đó là thời điểm gia đình sum họp, con người hân hoan cùng nhau trong một sinh hoạt cộng đồng nhiều ý nghĩa. Lò Ngân Sủn miêu tả chợ phiên- nét sinh hoạt mang ý nghĩa đặc trưng của đồng bào vùng Việt Bắc, nơi những đôi trai gái tìm nhau, trao đổi tâm tình bằng những so sánh, liên tưởng độc đáo: Phiên chợ/ Như cái chảo thắng cố/ Nóng lên bao mối tình dang dở (Khau Vai); bởi thơ ông lúc nào cũng khiến con người rạo rực và mê đắm, một cuộc sống nhiệt thành và đầy sức xuân: Mùa xuân đến/ Lòng người nở hoa/ Trái tim giã cốm/ Cả làng/ Cả bản/ Già trẻ/ Gái trai/ Người người/ Mới từ đầu đến chân (Mùa xuân đến). Dương Thuấn lại viết về niềm vui giản dị của những con người chân chất, mộc mạc khi lên rừng hái lá dong làm bánh chưng, món ăn không thể thiếu trong ngày tết: Tháng chạp lên rừng hái lá dong/ Mang về gói bánh chưng ngày tết/ Một mình trong khe cạn em hát (Cháy vì lửa sông sâu). Còn nhà thơ Mai Liễu thấm thía cảm giác hạnh phúc khi được sống trong tình cảm cố kết cộng đồng sau những thăng trầm bươn chải nửa đời người: La đà cả ba ngày Tết/ Chén xuân nồng đượm nghĩa tình/ Cũng may, nửa đời phiêu dạt/ Vui buồn còn bạn/ còn quê… (Tết quê nhà).

Với người dân tộc thiểu số, mười hai tháng trong năm hầu như tháng nào cũng có tết, nhưng đứng đầu trong năm là Tết Nguyên Đán, người ta còn gọi là Tết anh cả. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc, ấm no, gà vịt đầy chuồng, thóc lúa kìn kìn vào nhà, khắp nơi hân hoan bởi những trò chơi, cuộc hát… Bởi “Mùa xuân là mùa làm người. Mùa xuân vui từ khuya đến sáng…” (Tết anh cả- Y Phương).

Lòng dạ dồn vào phiên chợ Tết

Cá tôm, gà vịt, gạo trắng ngần

Mới hay sông núi cùng tụ hội

Vui buồn gì cũng gặp mùa xuân.

(Chợ Tết- Lò Cao Nhum)

Mùa xuân là mùa vui nhất

Mùa của trai xinh, gái đẹp

Áo chàm thơm đi hội lồng tồng…

(Nước hồ mãi trong xanh- Nông Thị Ngọc Hòa)

Không chỉ miêu tả những sinh hoạt vui chơi, không khí hân hoan của mọi người trong ngày tết, nhiều nhà thơ dân tộc thiểu số còn đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Theo phong tục người Tày, tết là dịp để người con rể biểu hiện sự kính trọng, hiếu thảo với gia đình nhà vợ: Đã làm con rể trẻ hay già/ Dù ở gần hay ở xa/ Đến tháng giêng nhớ thăm mẹ vợ/ Người đã sinh thành nuôi lớn vợ ta (Tháng Giêng thăm mẹ vợ- Dương Thuấn); là dịp mời tổ tiên về cùng con cháu lòng thành cầu mong những điều hạnh phúc sẽ đến trong năm mới:  Hãy đốt to lên ngọn lửa/ Cho sáng tỏa khắp sàn nhà/ Mừng các cụ tổ về ăn tết/ Thắp hương, rót rượu trà ra… (Giao thừa- Dương Thuấn). Mùa xuân cũng đồng nghĩa với hạnh phúc, ấm no, một cuộc đời mới được tái sinh cho tất cả. Ngày còn chiến tranh là sự tối tăm, đến khi hòa bình lập lại, mùa xuân cũng mang đến những sắc thái mới mẻ hơn, ý nghĩa hơn:

Các anh chiến sĩ của nhân dân

Hãy nhận với em áo ấm thân

Đánh giặc có sờn em vá lại

Hết mùa đông lạnh sẽ sang xuân.

(Khâu áo- Nông Quốc Chấn)

Với một lối thơ đậm tính chất truyền thống, những bài thơ của Bàn Tài Đoàn khiến người Dao như được nói hộ tâm hồn, tình cảm của chính mình, họ thường dùng để hát, để tâm tình khi có chuyện vui, bởi họ tìm được ở đó không chỉ là sự trang trải nỗi lòng mà còn là những bảo ban nhau về lẽ sống, đối nhân xử thế của con người:

Núi rừng nghe lời ca tiếng hát

Xuân về nở rộ hoa kim- anh

Măng vầu, măng trúc cùng cao vút

Như giáo, như gươm giữ rừng xanh

(Suối LêNin, núi Các Mác)

Đặc biệt, mùa xuân đem đến hạnh phúc, tình yêu. Những khởi nguồn của tuổi trẻ, của hoài bão, của ước mơ và của đôi lứa đều được mùa xuân ươm mầm:

Chợ Đồn mùa xuân về

Giọt nắng long lanh đậu trong mắt em

Thành câu hát…

Dẫn lối đi về.

(Chợ Đồn mùa xuân về- Ma Phương Tân)

Giao thừa, gió

Giao cảm duyên trời, duyên đất

Ngọn gió chân thật

Thổi nghiêng về trên ấy phương em.

(Gió giao thừa- Lò Cao Nhum)

Nỗi buồn tha hương

Bên cạnh những vần thơ gợi nên không khí vui tươi của ngày tết, các nhà thơ dân tộc thiểu số còn có những sáng tác gợi về nỗi buồn, nỗi cô đơn, những trăn trở suy tư của những đứa con lưu lạc vào dịp tết đến xuân về. Ngắm cành đào xuân khoe sắc thắm, Bùi Thị Tuyết Mai không khỏi ngậm ngùi vì ý nghĩ mẹ cha lại già thêm một tuổi, những ngày vui trên thế gian lại ngắn lại một chút: Mỗi tết/ Cha tặng cho tôi một phong bao…/ Và có một lần/ Chiếc phong bao buồn rầu kể cho tôi/ Về những sợi tóc mới vừa bạc trên đầu cha/ Mảnh gương lâu nay vẫn trong veo cửa sổ mẹ/ Bỗng hiện lên nhiều nếp nhăn. Còn nhà thơ trẻ Nông Quang Khiêm với suy tư sâu lắng khi tạo dựng sự đối lập: Xuân đến đất trời trẻ lại nhưng con người cũng lại nhận thêm một trong quỹ tuổi của mình. Tình cảm với những người thân của tác giả dễ dàng tìm được sự đồng cảm:

Xuân cho nhiều sao không cho cả

Cứ nhăn nheo khuôn mặt ông bà

Mùa xuân trẻ sao đời không trẻ

Cứ bạc hoài mái tóc mẹ cha!

(Trách xuân)

Bên cạnh vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ, phong tục tập quán độc đáo, thì chuyện khó nhọc và cuộc sống đói nghèo của người miền núi dường như thu hút được sự quan tâm của hầu hết các tác giả. Riêng lĩnh vực thơ, không hướng đến việc khắc họa những số phận con người với biến cố, tính cách hoàn chỉnh, nó chỉ là một mảnh ký ức, một vệt cắt ngắn của trạng thái. Thế nhưng nói được nhiều điều. Nỗi buồn về sự khó nhọc nhiều khi càng trở nên thấm thía khi mùa xuân đến. Dựa trên một tình huống có thật trong cuộc sống của mình, Tằng A Tài đẩy sự khó nhọc ấy lên cao độ với Miếng thịt sinh tồn. Anh khám phá ra cuộc sinh tồn từ những điều tưởng rất tầm thường:

Tôi chạm vào Ngai Thi Ca trên một đỉnh vắng lúc tôi tưởng mình là hư vô
Và lọn tóc thơm tho của Hoàng Hậu Thi Ca được tẩm một thứ dầu trần gian sực nức mùi lam lũ khổ đau lẫn màu bền gan hy vọng
Khắc trên Ngai vẻn vẹn hai chữ SINH TỒN
Vành thời gian nâu nâu căng qua vòm không gian thuôn thuôn
Tiếng mèo kêu hoang hoảng hốt giật tôi mặt mày buông thuỗn
Vuột mất Đêm Thi Ca.
Con chó gặm miếng thịt chạy quanh bờ ruộng

Người đàn bà hớt hải đuổi theo

Những mái nhà tranh eng éc lợn kêu

Báo hiệu mùa Xuân đang đến
Báo hiệu mùa Xuân đang đến
Con chó gặm miếng thịt chạy hổn hển
Người đàn bà thục mạng đuổi sau
Sáu đứa con nheo nhóc đứng nhìn nhau
Bỗng khóc như thể ống gạo cuối cùng trong nồi bốc cháy
Con chó và người đàn bà chạy

Con chó gặm miếng thịt chạy hổn hển

Người đàn bà thục mạng đuổi sau

Sau đứa con nheo nhóc đứng nhìn nhau

Bỗng khóc như thể ống gạo cuối cùng trong nồi bốc cháy.

… Người đàn bà và con chó đứng trong màn sương

Mặt ruộng khô cằn xơ xác rạ

Gió thai mùa thổi vài cơn chướng giá

Miếng thịt bảy lạng thâm tái tê…

(Miếng thịt sinh tồn- Tằng A Tài)

Nhiều nhà thơ xa quê đến lập nghiệp nơi vùng đất mới, tết đến nhớ quay quắt cố hương, sự xa cách đó càng làm cho khát vọng hồi cố trở nên mãnh liệt và day dứt. Thơ Mai Liễu luôn thường trực nỗi khắc khoải xa quê hương, và mỗi dịp tết đến xuân về, người người sum họp lại là lúc cô đơn và chạnh lòng nhất:

Giữa ồn ào thành phố

Âm thầm mơ giấc quê

Năm nay hoa muộn nở

Xuân về chờ ai chăng?

(Mơ quê)

Phùng Hải Yến thì không chỉ với tản văn, những bài thơ của chị cũng mang âm hưởng vùng cao khá rõ, với những khát khao mộc mạc được gắn bó với quê nhà, nơi có những người thân yêu. Chị ao ước:

Sắp tết rồi!

Về với núi rừng thôi!

Làm con sóc con rúc trong lòng mế

Làm con dúi tìm về với chiếc hang- lòng đất

Về cọn nước quê mình

Giọt nước ngọt mềm môi.

(Vị quê)

Xa quê, Triệu Kim Văn cảm thấy mình mắc nợ gia đình, mắc nợ dân tộc Dao yêu thương khi tiếng pháo đêm giao thừa nổ vang: Con không về “chẩy chấu” cho cha/ Để xuất hành sau giao thừa pháo nổ/ Biết rồi mẹ lại mong lại nhớ/ Lại cầu an cho con cháu sang năm… (Con sẽ về). Cũng là một người con xa quê lâu ngày, nhìn thiên hạ vui vẻ đón tết, Y Phương nhớ nhà da diết đến mức phải bật lên thành tiếng: Tết này/ Ở thành phố/ Nhớ tiếng gà (Tiếng gà). Giống như nhiều nhà thơ khi rời quê hương đến một vùng đất mới, khắc khoải một khát vọng trở về luôn thường trực trong ông: Trên các bến tàu bến xe/ Tôi thấy/ Những valy/ Những túi/ Những người/ Căng phồng niềm vui/ Về quê ăn Tết/ Tay tôi chạm cành buồn mọng nước/ Bên đường Cây cũng chẳng còn ai/ Mà về (Cây ơi về đâu).

Có thể thấy, mỗi người một suy tư, một day dứt nhưng niềm tin tưởng và lý tưởng sống hiến dâng không bao giờ vơi cạn. Vào thời khắc thiêng liêng của đoàn tụ, của ngẫm ngợi ấy khiến ý thức về một cuộc đời không vô nghĩa càng trở nên sáng rõ: 

Xuân nào gọi xuân già

Khi qua thời chập chững…

Da hiện dần dấu chim

Xếp nghĩ càng thêm tuổi

Xuân không biết dừng lại

Nếu ta thừa hiến dâng.

(Đếm tuổi- Lò Cao Nhum)

Khi nghiên cứu về tương tác cá nhân- không gian (person- place), R.B.Taylor quan niệm về tác động lãnh thổ, sự gắn bó với một nơi, có thể được định nghĩa như những liên hệ tình cảm giữa cá nhân và môi trường trực tiếp của nó, có vai trò trực tiếp trong sự hình thành tính cách con người, trong thái độ của nó đối với thế giới xung quanh. Bằng những sáng tác về dân tộc mình nói chung, về ngày tết nói riêng, các nhà thơ dân tộc thiểu số một mặt đã làm tròn nghĩa vụ với quê hương, một mặt tham góp thêm một tiếng nói vừa tự tin, vừa trách nhiệm trong bản hợp thanh của văn học đương đại với ý thức thường trực về bản sắc dân tộc.

S.Q

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter